vanban.org

Bản án 161/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 09/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 63/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang và đình chỉ vụ án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đức T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 63/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang và đình chỉ vụ án.
  • Căn cứ chính? Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2019/HS-PT
Ngày: 09-10-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trọng Hân

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Quang

Bà Nguyễn Diệu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Loan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2019/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Phan Đức T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phan Đức T, sinh năm 1992; nơi sinh: huyện Nam Đ, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKTT: Xóm 6, xã Nam L, huyện Nam Đ, tỉnh Nghệ An, chỗ ở: Ấp Cây Thông Ng, xã Cửa D, huyện Phú Q, tỉnh Kiên Giang; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Đức V và bà Hoàng Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2019. Bị cáo không có mặt tại phiên tòa (Bị cáo đã chết vào ngày 23/7/2019 tại bệnh viện đa khoa huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) theo Thông báo người bị tạm giam chết số 11/TB ngày 23/7/2019 của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo Phan Đức T dùng điện thoại Nokia liên hệ với một người đàn ông tên Th (Chưa xác định được nhân thân) ở Thành phố Hồ Chí Minh để mua 4.000.000 đồng ma túy loại Heroin thì Th đồng ý, sau đó Th đọc số tài khoản để bị cáo T gửi tiền. Sau khi có số tài khoản của Th, bị cáo T đưa 4.000.000 đồng và nhờ người bạn tên Kim A gửi tiền cho Th. Đến ngày 07/01/2019, bị cáo T đến bưu điện huyện Phú Quốc nhận gói hàng bên trong có ma túy do Th gửi. Sau khi nhận được ma túy, bị cáo T mang về phòng trọ của mình tại ấp Cây Thông Ng, xã Cửa D, huyện Phú Q cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/01/2019, Công an vào kiểm tra phòng trọ của bị cáo T thì phát hiện và thu giữ 07 bịch nilon bên trong có chứa chất ma túy loại Heroin.

*Vật chứng thu giữ:

- 06 bịch nilon bên trong của mỗi bịch đều chứa chất bột màu trắng được hàn kín có cùng kích thước 0,8 cm x 1,3 cm

- 01 bịch nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng, kích thước 1,7 cm x 1,7 cm

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, số IMEI 1: 35975207119897501, số IMEI 2: 359753071198 đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Model: TA – 1034, số IMEI354481092605108 đã qua sử dụng.

*Tại kết luận giám định số 114/KL-KTHS ngày 11/01/2019, kết luận về đối tượng giám định: Chất bột màu trắng đựng trong 6 bịch nilon được hàn kín, kích thước 0,8 cm x 1,3 cm và 01 bịch nilon có kích thước 1,7 cm x 1,7 cm được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Heroin. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3751 gam.

*Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2019/HSST, ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phan Đức T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2019.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27/6/2019, bị cáo Phan Đức T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 1 Điều 355 và khoản 2 Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án do bị cáo Phan Đức T đã chết theo Thông báo người bị tạm giam chết số 11/TB ngày 23/7/2019 của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về quyết định của Bản án sơ thẩm:

Do bị nghiện ma túy nên bị cáo Phan Đức T đã liên hệ với một người đàn ông tên Th (Không rõ nhân thân, lai lịch) ở Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy bằng đường bưu điện về cất giấu trong phòng trọ của bị cáo để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/01/2019, Công an vào kiểm tra phòng trọ của bị cáo T thì phát hiện và thu giữ 07 bịch nilon bên trong có chứa chất ma túy loại Heroin. Qua giám định, ma túy bị cáo T tàng trữ có khối lượng là 0,3751 gam. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 20/6/2019 thì ngày 27/6/2019 bị cáo Phan Đức T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, vào ngày 23/7/2019, bị cáo Phan Đức T đã chết tại bệnh viện đa khoa huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, nguyên nhân chết ngưng hô hấp tuần hoàn, viêm cơ tim biến chứng, suy đa cơ quan. Vì bị cáo Phan Đức T, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 7 Điều 157, điểm d khoản 1 Điều 355 và khoản 2 Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang và đình chỉ vụ án. Do hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án nên không xem xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Việc hủy bản án của Tòa án cấp phúc thẩm không có lỗi của Thẩm phán đã xét xử sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 355 và khoản 2 Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự.

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 63/2019/HS-ST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang và đình chỉ vụ án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ