- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "huỳnh thê R- tăng si T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thê R.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 160/2026/HNGĐ - ST Ngày: 19/5/2026 “V/v Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Hiệp.
- Ông Lê Văn Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tào Văn Hai Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 19 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 361/2025/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 196/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thê R, sinh ngày 16/7/2002
Căn cước công dân số: 094302003841; Ngày cấp: 31/01/2026; Nơi cấp: Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C.
Địa chỉ thường trú: Khu vực Sở Tại B, phường V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Tăng Si T, sinh ngày 04/01/1996.
Chứng minh nhân dân số: 366168357; Ngày cấp: 14/5/2013; Nơi cấp: Công an tỉnh S.
Địa chỉ: khu V, phường V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/12/2025, nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Thê R trình bày:
Bà Huỳnh Thị Thê R và ông Tăng Si T có tổ chức tiệc cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thị xã V nay là Ủy ban nhân dân phường V, thành phố Cần Thơ vào ngày 17/01/2021, số giấy chứng nhận kết hôn số 37/2021. Thời gia đầu cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2024 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không còn hợp nhau và không có tiếng nói chung từ đó đã sống ly thân từ đó cho đến nay.
Nhận thấy trong thời gian chung sống với nhau giữa bà Huỳnh Thị Thê R và ông Tăng Si T phát sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và sống ly thân. Bà Huỳnh Thị Thê R xác định vợ chồng không còn tình cảm, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tăng Si T.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị Thê R và ông Tăng Si T có 02 con chung là Tăng Thị Huỳnh N (giới tính: nữ), sinh ngày 04/9/2020; Tăng Thị Huỳnh N1 (giới tính: nữ), sinh ngày 15/11/2023. Hiện nay hai cháu đang sống cùng bà Huỳnh Thị Thê R. Bà Huỳnh Thị Thê R yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi 02 cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Bà Huỳnh Thị Thê R không yêu cầu ông Tăng Si T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Tăng Si T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông Tăng Si T theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông Tăng Si T không liên lạc với Tòa án, không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn Huỳnh Thị Thê R, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, bà Huỳnh Thị Thê R yêu cầu ly hôn với ông Tăng Si T. Quan hệ pháp luật nêu trên được điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Tăng Si T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn Huỳnh Thị Thê R có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng nay là Ủy ban nhân dân phường V, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 17/02/2021 theo đúng quy định. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh các con mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn Huỳnh Thị Thê R có kết hôn với bị đơn Tăng Si T là sự thật, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Vì vậy, giữa bà Huỳnh Thị Thê R và ông Tăng Si T đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó thì bất đồng quan điểm thường xuyên cãi vã làm cho tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến bà Huỳnh Thị Thê R và ông Tăng Si T không còn tiếp tục sống chung với nhau từ năm 2024.
Nguyên đơn kiên quyết yêu cầu ly hôn vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Xét thấy, trong quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, hiện không còn sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình là đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó chứng tỏ rằng tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa, mặc dù đang tồn tại quan hệ hôn nhân nhưng giữa bà Huỳnh Thị Thê R và ông Tăng Si T không còn tình nghĩa vợ chồng. Những biểu hiện trên cho thấy, nguyên đơn và bị đơn không thể sống chung để cùng nhau xây dựng được gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn Huỳnh Thị Thê R và bị đơn Tăng Si T thật sự trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Từ những phân tích nhận định như trên, xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Huỳnh Thị Thê R đối với bị đơn Tăng Si T là có cơ sở chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết cho bà Huỳnh Thị T1 Ry được ly hôn với ông Tăng Si T.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị Thê R và ông Tăng Si T có 02 con chung là Tăng Thị Huỳnh N (giới tính: nữ), sinh ngày 04/9/2020; Tăng Thị Huỳnh N1 (giới tính: nữ), sinh ngày 15/11/2023 hiện đang sống cùng bà Huỳnh Thị Thê R. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại đơn khởi kiện bà Huỳnh Thị Thê R yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy, con chung tên Tăng Thị Huỳnh N, Tăng Thị Huỳnh N1 còn nhỏ chưa thể hiện được ý chí mong muốn được sinh sống với cha hay mẹ. Hiện nay cháu Tăng Thị Huỳnh N và Tăng Thị Huỳnh N1 đang sống chung với mẹ là bà Huỳnh Thị Thê R được chăm sóc đảm bảo cuộc sống của các cháu vẫn đảm bảo ổn định phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần trong quá trình giải quyết vụ án ông Tăng Si T cũng không có ý kiến, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Nhận thấy bà Huỳnh Thị Thê R có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, các cháu hiện tại đang sống ổn định với bà bà Huỳnh Thị Thê R. Bà bà Huỳnh Thị Thê R vẫn đảm bảo được cuộc sống của cháu Tăng Thị Huỳnh N, Tăng Thị Huỳnh N1 được ổn định phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần. Do đó, để đảm bảo cho cuộc sống của cháu Tăng Thị Huỳnh N, Tăng Thị Huỳnh N1 được ổn định, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Tăng Thị Huỳnh N và cháu Tăng Thị Huỳnh N1 cho bà Huỳnh Thị Thê R tiếp tục nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Huỳnh Thị Thê R trình bày không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm c Khoản 1 Điều 92, Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Khoản 2 Điều 81, Khoản 1, Khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thê R.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thê R được ly hôn với ông Tăng Si T.
2/ Về con chung: Giao bà Huỳnh Thị Thê R được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung là Tăng Thị Huỳnh N (giới tính: nữ), sinh ngày 04/9/2020; Tăng Thị Huỳnh N1 (giới tính: nữ), sinh ngày 15/11/2023 đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi. Trong thời gian Bà Huỳnh Thị Thê R nuôi con, ông Tăng Si T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị T1 Ry không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3/ Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thê R và ông Tăng Si T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nguyên đơn Huỳnh Thị Thê R phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012393 ngày 08/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Huỳnh Thị Thê R đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án cấp tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
| Nơi nhận - VKS khu vực 8 - Cần Thơ; - Các đương sự; - TAND tp Cần Thơ; - Phòng THA.DS khu vực 8 - Cần Thơ; - UBND phường Vĩnh Phước; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toàn |