vanban.org

Bản án 160/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị N và anh Trần Văn T.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị H, sinh ngày 29/04/2010 cho chị Vũ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.. Con chung tên Trần D đã thành niên và có khả năng lao động nên chị N không yêu cầu Toà án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn N-T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị N và anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2026/HNGĐ-ST
Ngày 16-06-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒAÁN NHÂN DÂNKHUVỰC1-HẢIPHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Doãn Văn Sáng

Ông Phạm Công Hạ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng xét xử công khai vụ án sơ thẩm thụ lý số 99/2026/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2026 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 05 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 117/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1984; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố Mức, phường Nam Triệu, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Quyết Tâm, phường Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1979; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Tổ dân phố Mức, phường Nam Triệu, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 13 tháng 03 năm 2026 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị N trình bày:

Chị Vũ Thị N kết hôn với anh Trần Văn T trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nay là phường Nam Triệu, thành phố Hải Phòng ngày 10/02/2006. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hoà hợp, cuộc sống chung không thống nhất, vợ chồng thiếu tin tưởng lẫn nhau trong lao động làm ăn kinh tế nên thường xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn chị N và T hiện đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn T. Chị và anh Trần Văn T có 02 con chung tên Trần D, sinh ngày 22/09/2006 và Trần Thị H, sinh ngày 29/04/2010. Khi ly hôn chị Vũ Thị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Thị H. Con chung tên Trần D đã thành niên và có khả năng lao động nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung do chị và anh T tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn anh Trần Văn T có đăng ký thường trú và hiện cư trú tại Tổ dân phố Mức, phường Nam Triệu, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác cho anh Trần Văn T nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Trần Văn T vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Vũ Thị N.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định và việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị N và anh Trần Văn T. Giao con chung tên Trần Thị H, sinh ngày 29/04/2010 cho chị Vũ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung tên Trần D đã thành niên và có khả năng lao động nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung do các đương sự tự thoả thuận. Chị Vũ Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao căn cước công dân, bản sao giấy khai sinh của con; Bản tự khai; Biên bản lấy lời khai; Biên bản xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Văn T có nơi cư trú tại phường Nam Triệu, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Trần Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Văn T.

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị N và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nay là phường Nam Triệu, thành phố Hải Phòng vào ngày 10/02/2006 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn căng thẳng. Theo tài liệu xác minh tại địa phương và lời khai của các đương sự thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, cuộc sống chung vợ chồng không thống nhất. Mâu thuẫn vợ chồng chị N và anh T đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn chị N và anh T hiện đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, thể hiện anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N và không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị N và anh Trần Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Trần Văn T .

Về con chung: Chị Vũ Thị N và anh Trần Văn T có 02 con chung tên Trần D, sinh ngày 22/09/2006 và Trần Thị H, sinh ngày 29/04/2010. Khi ly hôn chị N xin được trực tiếp nuôi con chung tên Trần Thị H. Con chung tên Trần D đã thành niên và có khả năng lao động nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết. Xét chị N hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung và vẫn đảm bảo về mọi mặt, cháu H có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung tên Trần Thị H, sinh ngày 29/04/2010 cho chị Vũ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với các quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị N và anh Trần Văn T tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Vũ Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặt khác, anh Trần Văn T chưa có lời khai nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Vũ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị N và anh Trần Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị H, sinh ngày 29/04/2010 cho chị Vũ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.. Con chung tên Trần D đã thành niên và có khả năng lao động nên chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị N và anh Trần Văn T tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002958 ngày 18 tháng 03 năm 2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ