vanban.org

Bản án 160/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kiều D.

Về hôn nhân: Cho chị D được ly hôn với anh Phạm Văn H. Về con chung: Giao Phạm Diệu H1, sinh ngày 31/5/2012 cho chị D và Phạm Trung H2, sinh ngày 01/10/2015 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kiều D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28 – 6 – 2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Càn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Hồng Dưỡng.

Bà Nguyễn Kim Kết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kiều D, sinh năm 1991. Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1989. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Kiều D, thể hiện:

Chị Nguyễn Kiều D và anh Phạm Văn H chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tinh Cà Mau. Khi về chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh H không quan tâm đến gia đình; mặc dù đã được gia đình góp ý, hàn gắn nhưng không khắc phục được nên đã sống ly thân khoảng 05 năm nay. Từ nguyên nhân trên, chị D xác định không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu được ly hôn với anh H.

Quá trình chung sống các đương sự có 02 con chung, gồm: Phạm Diệu H1, sinh ngày 31/5/2012 do chị D đang nuôi dưỡng và Phạm Trung H2, sinh ngày 01/10/2015 do anh H đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị D yêu cầu giữ nguyên việc nuôi con như hiện nay, việc cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản chung, nợ và các vấn đề khác: Không có.

* Đối với anh Phạm Văn H: Mặc dù đã được tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng anh H không có ý kiến gì về các nội dung khởi kiện của chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Nguyễn Kiều D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Phạm Văn H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp.

Chị Nguyễn Kiều D và anh Phạm Văn H chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tinh Cà Mau. Theo chị D, khi về chung sống phát sinh mâu thuẫn, phát sinh mâu thuẫn do anh H không quan tâm đến gia đình; mặc dù đã được gia đình góp ý, hàn gắn nhưng không khắc phục được nên đã sống ly thân khoảng 05 năm nay; do vậy, chị D xác định không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu xin được ly hôn với anh H. Đối với anh H không có ý kiến gì về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn và yêu cầu xin ly hôn của chị D.

Xét yêu cầu của chị D, thấy rằng: Hôn nhân của các đương sự có đăng ký kết hôn hợp pháp nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ; tuy nhiên, chị D yêu cầu xin ly hôn nhưng qua các lần triệu tập hòa giải, xét xử anh H đều vắng mặt, thể hiện việc anh H không có thiện chí hòa giải, hàn gắn; điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân của các đương sự đã thực sự trầm trọng và không thể hàn gắn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị D ly hôn với anh H là phù hợp.

Xét yêu cầu việc nuôi con sau khi ly hôn của chị D phù hợp với nguyện vọng của Phạm Diệu H1 và Phạm Trung H2, trong khi đó anh H không có ý kiến gì về yêu cầu này của chị D; do vậy, để ổn định trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nên giữ nguyên Diệu H1 cho chị D và Trung H2 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; trường hợp có phát sinh tranh chấp về nội dung này sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản chung, nợ và các vấn đề khác: Chị D xác định không có, anh H không có ý kiến gì về các nội dung này nên không đặt ra xem xét; trường hợp có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị D phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kiều D.

- Về hôn nhân: Cho chị D được ly hôn với anh Phạm Văn H.

- Về con chung: Giao Phạm Diệu H1, sinh ngày 31/5/2012 cho chị D và Phạm Trung H2, sinh ngày 01/10/2015 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng không đặt ra. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Kiều D phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); đối trừ số tiền nộp tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai số 0001232 ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi thì chị D đã nộp xong án phí.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ