vanban.org

Bản án 160/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Khánh Trung - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2023/HS-ST
Ngày: 28/3/2023

NHÂN DANH [

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hạnh;

Ông Nguyễn Duy Tuyên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Khánh T, sinh năm 1974 tại Thanh Hóa; nơi thường trú: số nhà 02/53 đường Mật S 2, phường Đông V, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiến T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y; tiền án: tại bản án số 220/2005/HSST ngày 16/9/2005, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2017; tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/11/2022 đến ngày 12/11/2022 chuyển tạm giam. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Trần Khắc P, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Phố Cao N, phường Hải T, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

+ Lê Anh C, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số nhà 01/53 Mật S, phường Đông V, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 01/11/2022, Lê Khánh T đi bộ từ nhà đến khu vực Cầu Đ, phố Cốc H, phường Đông H, thành phố Thanh Hóa gặp và mua được 10 gói Heroin của một người phụ nữ tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà, một mình sử dụng hết 05 gói Heroine, còn lại 05 gói Heroine T cất giấu ở đầu giường trong phòng ngủ.

Đến đầu giờ chiều ngày 01/11/2022, Trần Khắc P, sinh năm 1971, trú tại tổ dân phố Cao N, phường Hải T, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh Hóa gọi điện thoại cho Lê Anh C, sinh năm 1980, trú tại số nhà 01/53 Mật S, phường Đông V, thành phố Thanh Hóa nhờ mua hộ Heroine để sử dụng. C đồng ý và hẹn P ra nhà Lê Anh C. Sau đó, khoảng 15 giờ 30 phút P đi xe buýt ra đến khu vực đầu ngõ nhà Lê Anh C, tại đây P đưa cho Lê Anh C 1.000.000 đồng (gồm hai tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng). P đứng chờ ở đầu ngõ, còn Lê Anh C cầm tiền và một mình đi đến nhà Lê Khánh T mua được 05 gói Heroin với giá 1.000.0000 đồng, Lê Anh C ra đưa cho P 03 gói Heroine, còn 02 gói Heroine Lê Anh C mang về nhà một mình sử dụng hết. Sau khi nhận 03 gói Heroine từ Lê Anh C, Phồn đi xe buýt về nhà. Đến khoảng 11 giờ ngày 02/11/2022, Trần Khắc P mang 03 gói Heroine trên tìm nơi để sử dụng, khi đi đến khu vực tiểu khu 5, phường Hải H, thị xã Nghi S thì bị Tổ công tác Công an thị xã Nghi S và Công an phường Hải H, thị xã Nghi S kiểm tra, Trần Khắc P đã tự giác giao nộp 03 gói Heroine cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vụ việc và thu giữ toàn bộ tang vật.

Cùng ngày 02/11/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi S, tỉnh Thanh Hóa tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Khắc P tại tổ dân phố Cao N, phường Hải T, thị xã Nghi S, tỉnh Thanh Hóa nhưng không thu giữ được gì.

Căn cứ lời khai của Trần Khắc P, Lê Anh C, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Anh C (tại số nhà 01/53 Mật S, phường Đông V, thành phố Thanh Hóa) và Lê Khánh T (tại số nhà 02/53 Mật S, phường Đông V, thành phố Thanh Hóa) nhưng đều không phát hiện và thu giữ gì.

Đến 08 giờ 30 ngày 03/11/2022, Lê Khánh T đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy với Lê Anh C vào chiều ngày 01/11/2022. Số tiền 1.000.000 đồng bán ma túy, Lê Khánh T đã tiêu xài cá nhân hết 800.000 đồng, còn lại 200.000 đồng Trung gửi chị gái là Lê Thị T, sinh năm 1963, trú tại số nhà 39/29 Quảng X, phường Đông V, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giữ hộ.

Tại bản Kết luận giám định số 3903/KL-KTHS ngày 09/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: 03 gói giấy màu trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, có tổng khối lượng 0,055 gam là ma túy, loại Heroine.

Về vật chứng thu giữ, xử lý: 01 điện thoại di động nhãn hiệu nokia 1280, màu đen, bên trong lắp sim số 0938.041.672 thu của Trần Khắc P và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen, bên trong lắp sim số 0942.811.566 thu của Lê Anh C. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên cơ quan điều tra đã trả lại cho Trần Khắc P và Lê Anh C.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, viền xanh, lắp kèm sim; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A20S, màu đen, lắp kèm sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY, màu đen; 01 tờ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Trần Khắc P khi bị Công an thị xã Nghi S kiểm tra đang tàng trữ trên người 0,055 gam ma túy Heroin, mục đích để sử dụng; Lê Anh C được Trần Khắc P nhờ mua ma túy Heroin về để sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, hành vi của P và C chưa cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an thị xã Nghi S, tỉnh Thanh Hóa để xử phạt hành chính đối với Trần Khắc P và chuyển đến Công an thành phố Thanh H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính đối với Lê Anh C.

Người phụ nữ tên D, Lê Khánh T khai đã bán ma túy cho Lê Khánh Tở khu vực cầu Đ, phường Đông H, thành phố Thanh Hóa nhưng T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của D. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ và xử lý đối với D.

Đối với Lê Thị T là người được T nhờ giữ hộ số tiền 200.000 đồng nhưng T không biết đó là tiền do T bán ma túy mà có. Vì vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với T.

Với nội dung nêu trên, bản cáo trạng số 119/CTr-VKS ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Khánh T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Khánh Trung phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trung từ 30 đến 36 tháng tù.

Về vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo còn lại sau giám định. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng và truy thu của bị cáo số tiền 800.000 đồng do bán ma túy trái phép mà có. Trả lại cho bị cáo 03 chiếc điện thoại di động cơ quan công an đã thu giữ của bị cáo.

Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo khai: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/11/2022, tại số nhà 02/53 Mật S, phường Đông V, thành phố Thanh Hóa, bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép 0,055 g Heroin cho Lê Anh C, trú tại số nhà 02/53 Mật Sơn, phường Đông V, thành phố Thanh Hóa.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Khánh T có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì hám lời bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tại bản án số 220/2005/HSST ngày 16/9/2005, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2017. Như vậy, bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và bị phát hiện, đến 08 giờ 30 ngày 03/11/2022, bị cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa xin đầu thú, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận, vì vậy ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy này.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, viền xanh, lắp kèm sim; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A20S, màu đen, lắp kèm sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY, màu đen, bị cáo không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo.

Số tiền 1.000.000 đồng bị cáo bán ma túy trái phép mà có bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết 800.000 đồng vì vậy căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu số tiền 200.000 đồng và truy thu số tiền 800.000 đồng của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

[ ơQUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Khánh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Khánh T 33 (ba ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 03/11/2022.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Lê Khánh T 5.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có dấu của phòng kỹ thuật hình sự kèm chữ viết của Lê Minh Tiến, Nguyễn Trọng Trọng.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, viền xanh, lắp kèm sim; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A20S, màu đen, lắp kèm sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GOLY, màu đen.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 107/2023/THA ngày 02/3/2023 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Truy thu của bị cáo số tiền 800.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ