vanban.org

Bản án 160/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 14/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2023 đến ngày 28/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn G - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
––––––––
Bản án số: 160/2023/HS-ST
Ngày: 14/12/2023
–NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Tuyến

Ông Ngô Rạng Đông

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn G, sinh năm 1964 tại Đồng Nai. Nơi ĐKTT: Ấp VT, xã HC, huyện U MT, tỉnh KG; Chỗ ở hiện nay: Phường DĐ, thành phố PQ, tỉnh KG; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1938 (chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1940 (chết); Vợ: Hồ Thị Bé T, sinh năm 1983; Con có 02 người, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 11/02/2023 đến ngày 28/4/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962 (Chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1974. (Có mặt)

Địa chỉ: phường DĐ, thành phố PQ, tỉnh KG.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị Bé T, sinh năm 1983 (Có mặt).

Địa chỉ: Phường DĐ, thành phố PQ, tỉnh KG.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 03/02/2023, Nguyễn Văn G điều khiển xe ôtô, nhãn hiệu Toyota, loại Veloz, biển kiểm soát 68E-006.79 của G chở khách từ xã GD về đường phường DĐ, thành phố PQ, tỉnh KG, xe chạy đến đoạn đường sân bay củ thuộc phường DĐ theo hướng đường TT thuộc phường DĐ. Lúc này khoảng 20 giờ 55 phút cùng ngày, do không giữ khoảng cách an toàn và thiếu chú ý quan sát (Vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ) nên phần đầu xe ô tô G điều khiển đụng vào phía sau xe đạp do ông Nguyễn Văn H điều khiển chạy cùng chiều phía trước, làm ông H bị bất văng lên nắp cabô và kính chắn gió trước của xe ô tô, rơi xuống đường tử vong tại chỗ. G không dừng lại mà vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy đi trả khách rồi chạy xe đến khu đất trống ở phường DĐ giấu xe. Đến ngày 10/02/2023, G điều khiển xe chạy sang thành phố RG để sửa lại xe thì bị phát hiện bắt giữ. Đến ngày 13/02/2023, Nguyễn Văn G bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang khởi tố, tạm giam. Ngày 28/02/2023, chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc điều tra theo thẩm quyền.

* Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 102, ngày 02/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Ông Nguyễn Văn H , sinh năm 1962, địa chỉ: phường DĐ, thành phố PQ như sau:

1. Các kết quả chính

- Trên người nạn nhân có nhiều vết xây sát, rách da và bầm tụ máu rải rác.

- Vết thương đứt lóc da vùng đỉnh phải kích thước 7cm x 1cm, bờ mép gọn, lộ xương họp sọ. Sát mép trước vết thương có vết sây sát da kích thước 4cm x 1cm.

- Tụ máu dưới da đầu vùng đỉnh – chẩm trái.

- Tụ máu cơ thái dương trái.

- Võ bản ngoài xương sọ vùng đỉnh – chẩm phải kích thước 4cm x 1,5cm. Từ vết vở có vết nứt kéo dài về hai bên dài 9cm.

- Tụ máu dưới màng nhện hai bán cầu đại não.

- Tụ máu thân não và tiểu não hai bên.

- Nứt xương nền sọ giữa hai bên.

- Tụ máu rải rác phổi hai bên.

- Vỡ gan phải kích thước 8cm x 1cm.

- Ổ bụng có khoảng 300ml máu loãng.

2. Nguyên nhân chết: Do chấn thương sọ não và đa chấn thương.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 xe ô tô 07 chổ, nhãn hiệu Toyota, số loại viloz, màu xám, biển kiểm soát 68E-006.79, bị hư hỏng phía trước và rạn nức kính chắn gió trước.

- 01 xe đạp màu xanh, bị hư hỏng một số bộ phận phía sau xe.

- 01 thanh cao su màu đen, chiều dài 0,4m.

- 01 thanh kim loại màu bạc, chiều dài 0,4m.

- 01 thanh nhựa mạ crom, màu trắng đen, chiều dài 0,75m.

- 01 mãnh nhựa màu đen, kích thước 0,05m x 0,10m.

- 01 thiết bị giám sát hành trình hộp chuẩn 4GDV4G, SX: 06/22/FW02, số mã vạch: 86423904429185, nguồn: Đỏ, GND: Đen, Bật máy: Vàng.

Bản cáo trạng số 155/CT-VKSPQ ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn G đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị mức hình phạt cho bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo đã tác động gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại bà Nguyễn Thị S không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị tòa miễn xét.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo 01 thiết bị giám sát hành trình hộp chuẩn 4GDV4G, SX: 06/22/FW02, số mã vạch: 86423904429185, nguồn: DFDor, GND: Đen, Bật máy: Vàng.

Tịch thu tiêu huỷ 01 thanh cao su màu đen, chiều dài 0,4m. 01 thanh kim loại màu bạc, chiều dài 0,4m. 01 thanh nhựa mạ crom, màu trắng đen, chiều dài 0,75m. 01 mãnh nhựa màu đen, kích thước 0,05m x 0,10m.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị hại - Bà Nguyễn Thị S trình bày: Bị cáo đã bồi thường 200.000.000 đồng, nay không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Yêu cầu xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX vào nghị án: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ:

a) Bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ 55 phút ngày 03/02/2023, khi điều khiển xe ôtô biển số 68E-006.79 của bị cáo chở khách chạy trên đoạn đường sân bay cũ thuộc khu phố 5, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang theo hướng đường TP thuộc phường DĐ. Do điều khiển xe nhanh, chỉ bật đèn chiếu gần, không giữ khoảng cách an toàn và thiếu chú ý quan sát nên đã đụng vào phía sau xe đạp của ông Nguyễn Văn H chạy cùng chiều phía trước, làm ông H bị hất văng lên nắp cabô và kính chắn gió trước của xe ôtô, rơi xuống đường tử vong tại chỗ. Sau khi gây tai nạn bị cáo không dừng lại mà điều khiển xe chạy trốn.

b) Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 102, ngày 02/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận, bị hại ông Nguyễn Văn Hchết do chấn thương sọ não và đa chấn thương.

c) Từ các chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử nhận định lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y, vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để kết luận do điều khiển xe với tốc độ nhanh, thiếu chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn nên đã đụng vào xe đạp do ông Nguyễn Văn H đang điều khiển cùng chiều phía trước. Hậu quả làm ông H bị hất văng lên nắp cabô xe ôtô của bị cáo sau đó rơi xuống đường chết ngay tại chỗ. Sau khi gây tai nạn bị cáo đã lái xe bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm, cố ý không cứu giúp người bị nạn. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng nên cần áp dụng cho bị cáo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo trực tiếp điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Toyota, loại Veloz, biển kiểm soát 68E-006.79 với tốc độ nhanh (70km/h) lại thiếu chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn nên không kịp thời phát hiện bị hại đang điều khiển xe đạp chạy cùng chiều phía trước. Do đó đã tông trực tiếp làm ông H chết ngay tại chỗ do chấn thương sọ não và đa chấn thương. Sau khi gây tai nạn cho ông H chẳng những bị cáo phải xuống xe xem xét tình trạng của bị hại để kịp thời cứu giúp mà còn lái xe đi bỏ mặc bị hại. Sau đó tiếp tục bỏ trốn khỏi Phú Quốc.

Mặc dù bị cáo có đến 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng và có đơn xin bãi nại của đại diện bị hại trong quá trình điều tra nhưng tại phiên toà bà S rút lại yêu cầu bãi nại và đề nghị xử bị cáo theo quy định pháp luật. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng, vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và đạo đức xã hội, gây mất an ninh trật địa phương nên không áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS đối với bị cáo mà cần tuyên phạt bị cáo mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát:

Tội danh, điều luật áp dụng và trách nhiệm dân sự mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận. Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, HĐXX chấp nhận một phần.

Về yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị S là người đại diện của bị hại cho rằng bị cáo đã bồi thường 200.000.000 đồng, nay không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Về các vấn đề khác:

- Về vật chứng: Đối với xe ôtô nhãn hiệu Toyota, loại Veloz, biển kiểm soát 68E-006.79 đã trao trả cho bị cáo và xe đạp màu xanh của bị hại đã trao trả cho người đại diện bị hại nên không xem xét.

Trả lại cho bị cáo 01 thiết bị giám sát hành trình hộp chuẩn 4GDV4G, SX: 06/22/FW02, số mã vạch: 86423904429185, nguồn: DFDor, GND: Đen, Bật máy: Vàng; Các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Về số tiền 200.000.00 đồng bồi thường cho bị hại được bị cáo và người đại diện bị hại xác nhận là do vợ của bị cáo (Hồ Thị Bé T) trực tiếp giao tiền, nay bà T không có yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền này. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bà Tí nên HĐXX ghi nhận.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2023 đến ngày 28/4/2023.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường xong, nay đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo 01 thiết bị giám sát hành trình hộp chuẩn 4GDV4G, SX: 06/22/FW02, số mã vạch: 86423904429185, nguồn: DFDor, GND: Đen, Bật máy: Vàng.

- Tịch thu tiêu huỷ:

01 thanh cao su màu đen, chiều dài 0,4m.

01 thanh kim loại màu bạc, chiều dài 0,4m.

01 thanh nhựa mạ crom, màu trắng đen, chiều dài 0,75m.

01 mãnh nhựa màu đen, kích thước 0,05m x 0,10m.

(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 199/QĐ-VKSPQ ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc - Bút lục 198).

4. Về án phí: Căn Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ