- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Ph1 đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thanh Ph1, Phạm Văn Quân, Đinh Hồng Bằng, Võ Văn Việt, Lê Quang T1, Nguyễn Viết Xuân, Võ Văn Hoàng S và Nguyễn Văn Vũ Linh phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH Bản án số:160/2022/HSST Ngày: 19/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hồng Vinh và bà Nguyễn Thị Hà .
Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 151/2022/HSST, ngày 15/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2022/QĐXXST-HS ngày 02/12/2022, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh Ph1, sinh năm 1986.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Tổ 9, ấp Thuận Tiến C, xã Thuận An, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn Nhuần, sinh năm 1964; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Gấm, sinh năm 1966; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Hồ Thị Thi, sinh năm 1985; Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 28/01/2005, bị UBND tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong ngày 21/9/2006.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến ngày 09/11/2022, được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở địa Ph1. Có mặt.
2. Phạm Văn Quân, sinh năm 1990.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn Đô Quăn, xã Thạch Lập, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Họ và tên bố: Phạm Văn Để, sinh năm 1959; Họ và tên mẹ: Phạm Thị Đề, sinh năm 1961; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến ngày 10/11/2022 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở địa Ph1. Có mặt.
3. Đinh Hồng Bằng, sinh năm 1983.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Khóm Tô Bình, thị trấn Cô Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Họ và tên bố: Đinh Hồng Minh, sinh năm 1950; Họ và tên mẹ: Võ Thị Bé, sinh năm 1950; Gia đình có 10 anh em, bị cáo là con thứ tám; Vợ: Đặng Thị Huỳnh Như, sinh năm 1984; Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến ngày 09/11/2022 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở địa Ph1. Có mặt.
4. Võ Văn Việt, sinh năm 1977.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Ấp Hòa An, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 2/12; Họ và tên bố: Võ Văn Quốc, sinh năm 1954; Họ và tên mẹ: Đoàn Thị Bẩy, sinh năm 1954; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Hồ Thị Bé Mười, sinh năm 1982; Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến ngày 09/11/2022 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở địa Ph1. Có mặt.
5. Lê Quang T1, sinh năm 1995.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn Vân Sơn, xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Họ và tên bố: Lê Quang Tuynh, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Trần Thị Hằng, sinh năm 1968; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến ngày 09/11/2022 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở địa Ph1. Có mặt.
6. Nguyễn Viết Xuân, sinh năm 1990.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: thôn Trung Sơn, xã Thúy Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Họ và tên bố: Nguyễn Viết Lập, sinh năm 1970; Họ và tên mẹ: Dương Thị Mai, sinh năm 1969; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Phạm Thị Hương, sinh năm 1995; Con: Bị can có 2 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến ngày 10/11/2022 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở địa Ph1. Có mặt.
7. Võ Văn Hoàng S, sinh năm 1994.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Ấp 3, xã Trinh Phú, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Họ và tên bố: Võ Văn Sơn, sinh năm 1947; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Ngọc Em, sinh năm 1953; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Phong. Có mặt.
8. Nguyễn Văn Vũ Linh, sinh năm 1994.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Tổ 9, ấp Thuận Tiến C, xã Thuận An, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn Nhuần, sinh năm 1964; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Gấm, sinh năm 1966; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án.
Tại Bản án số: 23/2017/HSST ngày 15/5/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, xử phạt Linh 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS năm 1999, ra trại ngày 02/01/2021.
Nhân thân:
Ngày 01/12/2009, UBND huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định số: 3039 áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 18 tháng.
Ngày 28/05/2012, UBND tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định số; 832 áp dụng biện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,thời hạn 24 tháng.
Ngày 10/6/2015, UBND xã Mỹ Thuận, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi:“xâm hại sức khỏe người khác”.
Ngày 03/12/2015, Công an xã Thuận An, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi: “đánh nhau”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến ngày 09/11/2022 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở địa Ph1. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 03/9/2022, tại khu nhà trọ của anh Bùi Văn Dũng, sinh năm 1976ở thôn Bình An, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong phối hợp Công an xã Đông Thọ, huyện Yên Phong tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang nhóm đối tượngđang đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh bài cào ba lá. Các đối tượng bị bắt gồm: Nguyễn Văn Vũ Linh, sinh năm 1994 và Nguyễn Thanh Ph1, sinh năm 1986, cùng trú tại Tổ 9, ấp Thuận Tiến C, xã Thuận An, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long; Võ Văn Việt, sinh năm 1977, trú tại ấp Hòa An, xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; Phạm Văn Quân, sinh năm 1990, trú tại thôn Đô Quăn, xã Thạch Lập, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Lê Quang T1, sinh năm 1995, trú tại thôn Vân Sơn, xã Vân Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Viết Xuân, sinh năm 1990, trú tại thôn Trung Sơn, xã Thúy Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; Đinh Hồng Bằng, sinh năm 1983, trú tại khóm Tô Bình, thị trấn Cô Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang và Võ Văn Hoàng S, sinh năm 1991, trú tại ấp 3, xã Trinh Phú, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Vật chứng thu giữ gồm:
Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 9.300.000 đồng, 02 chiếu nhựa, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
Các đối tượng tự nguyện giao nộp tiền cất trên người: Võ Văn Việt giao nộp 1.750.000 đồng, Phạm Văn Quân giao nộp 11.000.000 đồng, Nguyễn Thanh Ph1 giao nộp 15.900.000 đồng, Đinh Hồng Bằng giao nộp 3.000.000 đồng, Lê Quang T1 giao nộp 1.500.000 đồng.
Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, đưa các đối tượng và vật chứng về trụ sở để điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong, các đối tượng khai nhận hành vi của mình như sau:
Nguyễn Văn Vũ Linh và Nguyễn Thanh Ph1 là hai anh em, cùng làm thợ cô đúc nhôm tại các xưởng tái chế nhôm ở xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Ph1, Linh thuê phòng trọ của anh Bùi Văn Dũng, tại thôn Bình An, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Cùng khu nhà trọ của Ph1, Linh có Đinh Hồng Bằng, Võ Văn Việt. Khoảng 18 giờ ngày 03/9/2022, Ph1, Linh, Bằng, Việt ăn uống tại trước cửa phòng trọ của Ph1. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Ph1, Bằng, Việt rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào ba lá tính điểm được thua bằng tiền. Bằng nhìn thấy trong phòng trọ đối diện nơi Bằng đang ngồi (phòng trọ chưa có người thuê) có 01 bộ bài tú lơ khơ ở trên đầu giường, nên đi vào phòng và lấy ra để cả nhóm đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc trên chiếc chiếu của Ph1 dùng để ngồi ăn uống trước đó. Trong quá trình Ph1, Bằng, Việt đang đánh bạc thì Võ Văn Hoàng S (thuê trọ tại thôn Bình An, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong) đang ngồi chơi tại phòng trọ của chị Võ Thị Duyên Ý, sinh năm 1985, trú tại ấp 3, xã Trinh Phú, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, là chị gái của S và ở cùng khu nhà trọ với Ph1 thấy, nên S đi đến chỗ Ph1 và cùng ngồi xuống đánh bạc. Nguyễn Văn Vũ Linh thấy S tham gia đánh bạc nên Linh ngồi xuống bên tay trái Ph1, đánh ké cửa của Ph1. Một lúc sau có Nguyễn Viết Xuân, Phạm Văn Quân và Lê Quang T1 (cùng đang thuê trọ tại thôn Bình An, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong) đến và cũng tham gia đánh bạc với nhóm Ph1.
Các đối tượng thống nhất cách chơi như sau (Mỗi ván chơi đặt cửa từ 100.000 đồng trở lên) mỗi người cầm cái được chia bài ba lần, sau ba lần sẽ chuyển cho người bên cạnh bên tay phải chia xoay vòng đều cho tất cả mọi người tham gia đánh bạc. Mỗi ván bài, một người được chia 03 lá bài để tính điểm với người chia bài, người chơi điểm thấp hơn người chia bài thì người chơi phải trả cho người chia bài số tiền đặt cửa, người chơi điểm cao hơn người chia bài thì người chia bài phải trả cho người chơi tương ứng với số tiền đặt cửa. Người nào ké tiền vào bài của ai thì tính được thua theo bài ké cửa.
Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 22 giờ cùng ngày 03/9/2022 thì bị Công an huyện Yên Phong phối hợp Công an xã Đông Thọ kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Các đối tượng đánh bạc được thua cụ thể như sau:
Nguyễn Thanh Ph1 khai nhận khi tham gia đánh bạc, Ph1 mang theo số tiền 17.400.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, Ph1 bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, số tiền 15.900.000 đồng còn lại Ph1 cất trong người, khi thua hết 1.500.000 đồng thì sẽ bỏ ra tiếp tục đánh bạc.
Phạm Văn Quân khai nhận khi tham gia đánh bạc, Quân mang theo số tiền 12.500.000 đồng. Khi bị bắt quả tang,Quân bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, số tiền 11.000.000 đồng còn lại Quân cất trong người, khi thua hết 1.500.000 đồng thì sẽ bỏ ra tiếp tục đánh bạc.
Đinh Hồng Bằng khai nhận khi tham gia đánh bạc, Bằng mang theo số tiền 4.500.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, Bằng bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, số tiền 3.000.000 đồng còn lại Bằng cất trong người, khi thua hết 1.500.000 đồng thì sẽ bỏ ra tiếp tục đánh bạc.
Võ Văn Việt khai nhận khi tham gia đánh bạc, Việt mang theo số tiền 3.250.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, Việt bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, số tiền 1.750.000 đồng còn lại Việt cất trong người, khi thua hết 1.500.000 đồng thì sẽ bỏ ra tiếp tục đánh bạc.
Lê Quang T1 khai nhận khi tham gia đánh bạc,T1 mang theo số tiền 3.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang,T1 bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, số tiền 1.500.000 đồng còn lại T1 cất trong người, khi thua hết 1.500.000 đồng thì sẽ bỏ ra tiếp tục đánh bạc.
Nguyễn Viết Xuân khai nhận khi tham gia đánh bạc, Xuân bỏ ra số tiền 900.000 đồng, khi bị bắt quả tang, Xuân không rõ thắng thua bao nhiêu tiền. Số tiền còn lại đều để ở chiếu bạc.
Võ Văn Hoàng S khai nhận khi tham gia đánh bạc, S bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt S không rõ thắng thua bao nhiêu tiền. Số tiền còn lại đều để ở chiếu bạc.
Nguyễn Văn Vũ Linh khai nhận khi tham gia đánh bạc, Linh bỏ ra số tiền 400.000 đồng, khi bị bắt quả tang, Linh không rõ thắng thua bao nhiêu tiền. Số tiền còn lại đều để ở chiếu bạc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm như đã nêu ở trên.
* Về thu giữ và xử lý vật chứng:
Đối với tổng số tiền 42.450.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và trên người các đối tượng, Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Phong đã chuyển đến Kho bạc Nhà nước huyện Yên Phong để bảo quản.
Cáo trạng số: 145/CT-VKSYP ngày 14/11/2022 của VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố cáo Nguyễn Thanh Ph1, Phạm Văn Quân, Đinh Hồng Bằng, Võ Văn Việt, Lê Quang T1, Nguyễn Viết Xuân, Võ Văn Hoàng S và Nguyễn Văn Vũ Linh về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo khai nhận: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 03/9/2022, tại thôn Bình An, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, lực lượng Công can bắt quả tang Nguyễn Thanh Ph1, Phạm Văn Quân, Đinh Hồng Bằng, Võ Văn Việt, Lê Quang T1, Nguyễn Viết Xuân, Võ Văn Hoàng S và Nguyễn Văn Vũ Linh đang có hành vi đánh bạc, hình thức bằng bài ba lá được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 42.450.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Thanh Ph1 từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 40 tháng.
2. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Phạm Văn Quân từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 tháng đến 36 tháng.
3. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đinh Hồng Bằng từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 32 tháng.
4. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Võ Văn Việt từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 32 tháng.
5. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Lê Quang T1 từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 32 tháng.
6. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Viết Xuân từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng.
7. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Võ Văn Hoàng S từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 28 tháng. Trả tự do cho bị cáo nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
8. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn Vũ Linh từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Đánh bạc” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam để thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến ngày 09/11/2022.
Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 42.450.000 đồng các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếu nhựa, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
Các bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Yên Phong, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/9/2022, tại thôn Bình An, xã Đông Thọ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Thanh Ph1, Phạm Văn Quân, Đinh Hồng Bằng, Võ Văn Việt, Lê Quang T1, Nguyễn Viết Xuân, Võ Văn Hoàng S và Nguyễn Văn Vũ Linh đang có hành vi đánh bạc, hình thức bằng bài ba lá được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 42.450.000 đồng. Do vậy, có đủ căn cứ xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Xét vai trò của từng bị cáo: Các bị cáo phạm tội là đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc hay phân công thực hiện tội phạm nên có vai trò ngang nhau.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi do phạm tội của các bị cáo gây ra thì thấy: Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn g©y mÊt trËt tù trÞ an ë ®Þa phư¬ng nªn cÇn xö lý phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn Vũ Linh có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo khác không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thanh Ph1, Phạm Văn Quân, Đinh Hồng Bằng, Võ Văn Việt, Lê Quang T1, Nguyễn Viết Xuân, Võ Văn Hoàng S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo Ph1, Quân, Bằng, Việt, T1, Xuân, S đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy có đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy cho các bị cáo cải tạo tại địa Ph1 cũng đủ giáo dục các bị cáo.
Ngoài hình phạt chính cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Vũ Linh phạm tội phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm”, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo.
[3] Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 42.450.000 đồng các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếu nhựa, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
[4] Liên quan trong vụ án này có: Liên quan trong vụ án có anh Bùi Văn Dũng là chủ nhà trọ mà các bị cáo Ph1, Linh, Việt, Bằng đang thuê, anh Dũng không ở cùng người thuê trọ và cũng không biết việc các đối tượng đánh bạc. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong không xử lý đối với anh Dũng mà chỉ gọi hỏi, nhắc nhở là đúng pháp luật.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thanh Ph1, Phạm Văn Quân, Đinh Hồng Bằng, Võ Văn Việt, Lê Quang T1, Nguyễn Viết Xuân, Võ Văn Hoàng S và Nguyễn Văn Vũ Linh phạm tội “Đánh bạc”.
1. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thanh Ph1 18(mười tám) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
2. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn Quân 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
3. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đinh Hồng Bằng 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
4. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Võ Văn Việt 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
5. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Lê Quang T1 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
6. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Viết Xuân 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
7. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Võ Văn Hoàng S 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
8. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn Vũ Linh 10(mười) tháng tù về tội “Đánh bạc” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam để thi hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2022 đến ngày 09/11/2022. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.
Giao cho UBND xã Thuận An, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Thanh Ph1 trong thời gian thử thách.
Giao cho UBND xã Thạch Lập, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo Phạm Văn Quân trong thời gian thử thách.
Giao cho UBND thị trấn Cô Tô, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục các bị cáo Đinh Hồng Bằng trong thời gian thử thách.
Giao cho UBND xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục các bị cáo Võ Văn Việt trong thời gian thử thách.
Giao cho UBND xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục các bị cáo Lê Quang T1 trong thời gian thử thách.
Giao cho UBND xã Thúy Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục các bị cáo Nguyễn Viết Xuân trong thời gian thử thách.
Giao cho UBND xã Trinh Phú, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục các bị cáo Võ Văn Hoàng S trong thời gian thử thách.
Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; Nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
2. Về vật chứng: Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 42.450.000 đồng các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy: 02 Chiếu nhựa, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Lê Thị Hồng Vinh
Nguyễn Thị Hà
Nguyễn Anh Văn
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh. - VKS, THADS, CA huyện YP. - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Anh Văn |