vanban.org

Bản án 160/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 10/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 18/7/2022). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2022/HS-ST
Ngày: 10 – 11 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thiện Lợi

Bà Hoàng Thị Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Tô Hồng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 144/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy C, sinh ngày 12/8/1965; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 70, đường P, tổ 14, phường B, thành phố T, tỉnh T; Chỗ ở hiện nay: Số nhà 563, đường L, tổ 15, phường Q, thành phố T, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Đình T1 (đã chết) (ông T1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì) và bà Nguyễn Thị D; Có vợ là Ngô Thị T2 và có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 60/HSST/1985 ngày 09/10/1985 của Tòa án nhân dân thị xã T (nay là Tòa án nhân dân thành phố T) xử phạt Nguyễn Duy C 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản riêng của công dân”.

Bản án số 09 ngày 09/3/1993 của Tòa án nhân dân tỉnh T và bản án số 1112 ngày 20/8/1993 của Tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao xử phạt Nguyễn Duy C 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Bản án số 71-HSPT ngày 19 - 20/10/1995 của Tòa án nhân dân tỉnh T xử phạt Nguyễn Duy C 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành của Bản án số 1112 ngày 20/8/1993 của Tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao là 21 tháng 28 ngày. Buộc C phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 30 tháng 28 ngày.

Bản án số 174/2013/HSST ngày 01/11/2013 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh T xử phạt Nguyễn Duy C 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/7/2022 đến ngày 21/7/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Ngô Thị T2, sinh năm 1977. (Có mặt)

Trú tại: Số nhà 70, đường P, tổ 14, phường B, thành phố T, tỉnh T.

- Người chứng kiến:

+ Ông Phạm Ngọc B1, sinh năm 1976. (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn T3, xã V, thành phố T, tỉnh T.

+ Ông Lê Xuân T4, sinh năm 1962. (Vắng mặt)

Trú tại: Số nhà 10, ngõ 64, đường B2, tổ 15, phường T5, thành phố T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/7/2022, Nguyễn Duy C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS màu đỏ-đen, biển số 17N5 - 5310 từ nhà đến khu đường P1, tổ 17, phường K, thành phố T, tỉnh T với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến nơi C gặp một người nam giới khoảng 45 tuổi không biết tên, địa chỉ hỏi mua được 01 gói ma túy bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau đó C cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái và đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi C đi đến khu vực trước cửa số nhà 141, đường P1, tổ 17, phường K, thành phố T thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Bình yêu cầu kiểm tra vì thấy C có biểu hiện liên quan đến hoạt động ma túy. Trước sự chứng kiến của ông Phạm Ngọc B1 và ông Lê Xuân T4, C đã tự giác giao nộp từ lòng bàn tay trái 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, C khai nhận đó là gói Heroine của C mua để sử dụng, kiểm tra người C thu tại túi quần bên phải của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng – trắng, kiểm tra xe máy không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản kiểm tra, quản lý phương tiện, điện thoại.

Tại bản kết luận giám định số 294/KL-KTHS(MT) ngày 19/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Nguyễn Duy C gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1523 gam (không phẩy một nghìn năm trăm hai mươi ba gam).

Bản Cáo trạng số 160/CT-VKSTPTB ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Nguyễn Duy C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C mức án từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 294/KL-KTHS(MT). Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động OPPO màu vàng-trắng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. Trả lại chị Ngô Thị T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ-đen, biển số 17N5 - 5310.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Nguyễn Duy C nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/7/2022, tại khu vực trước cửa số nhà 141, đường P1, tổ 17, phường K, thành phố T, tỉnh T, Nguyễn Duy C đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1523 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

Hành vi của Nguyễn Duy C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt về các hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Nguyễn Duy C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, do đó bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định, không có tài sản, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy C còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động OPPO màu vàng-trắng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó trả lại cho bị cáo.

Kết quả điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS màu đỏ-đen, biển số 17N5 - 5310 là tài sản hợp pháp của chị Ngô Thị T2 (vợ bị cáo). Ngày 18/7/2022, bị cáo lấy xe đi nhưng không nói cho chị Tho biết đi đâu, làm gì, chị Tho cũng không biết bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua ma túy, do đó trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Ngô Thị T2.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Nguyễn Duy C khai mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đường P1, tổ 4, phường K, thành phố T, tỉnh T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 18/7/2022).

3.Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Duy C hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì, bên ngoài ghi số 294/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động OPPO màu vàng-trắng.

Trả lại chị Ngô Thị T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ-đen, biển số 17N5-5310.

(Vật chứng, tài sản trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/10/2022).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/11/2022.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ