- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 160/2022/HS-ST Ngày: 25-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thành Vân.
2. Ông Quàng Văn Tiện.
- Thư ký phiên toà:
+ Bà Lý Thị Thuỳ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tại điểm cầu trung tâm.
+ Ông Bùi Quang Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tại điểm thành phần.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại điểm cầu Trung tâm thuộc Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã và điểm cầu thành phần thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai v án hình sự th lý số: 168/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 161/2022/QĐXXST-HS ngày 15/8/2022, đối với bị cáo:
Lò Minh T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1984; nơi cư trú: Bản M, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Ngọc A (đã chết) và con bà: Lò Thị N; vợ: Lò Thị P, có 01 người con sinh năm 2020; tiền sự: Không.
Tiền án: Tại bản án số 88/HSST ngày 10/8/2007, bị TAND huyện Mai Sơn tuyên phạt 14 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử d ng trái phép chất ma túy.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan: Bà Lò Thị T, sinh năm 1988. Trú tại: Tổ dân phố 2, thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 30’ ngày 24/4/2022, tổ công tác Công an thị trấn S, huyện Sông Mã tiến hành kiểm tra công tác lưu trú đối với khu vực cho thuê trọ của bà Vũ Thị H - sinh năm 1965, trú tại tổ dân phố 3, thị trấn S, Sông Mã. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra phòng trọ số 05 do Lò Minh T - sinh năm 1984 trú tại bản M, xã C, Mai Sơn, Sơn La đang thuê trọ đã phát hiện bên trong túi quần bên phải phía trước đang mặc của T có 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (T khai nhận là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 25/4/2022, tại Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng bóc, m niêm phong cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Cân tách bì số chất bột liên kết màu trắng thu giữ của T có tổng khối lượng là 0,15 gam. Trích 0,04gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T. Vật chứng còn lại có khối lượng 0,11gam ký hiệu L.
Tại bản Kết luận giám định số 728/KL-KTHS ngày 25/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,04gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,15gam; loại Heroine”.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Lò Minh T sử d ng chất ma túy từ năm 2006, có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử d ng trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích). Khoảng 11 giờ 00’ ngày 23/4/2022, T đi bộ từ phòng trọ của T đến phòng trọ của Lò Thị T - sinh năm 1988 trú tại tổ dân phố 2, thị trấn S, Sông Mã để hỏi mượn xe môtô nhãn hiệu Honda Wave α BKS 29U5 - 5505 của T để đi mua hoa quả và T đồng ý. Sau khi mượn được xe, T nảy sinh ý định tìm mua ma túy để sử d ng nên đã điều khiển xe đến xã P, Mai Sơn, Sơn La, rồi dùng xe của chị T làm vật làm tin để vay số tiền 1.500.000VNĐ của anh Mùa A L - sinh năm 1999 trú tại bản H, xã P, Mai Sơn và hẹn anh L đến ngày 25/4/2022, T sẽ đến trả tiền và lấy lại chiếc xe, sau đó T đi bộ về huyện Sông Mã. Trên đường đi về T có gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đi bộ ngược chiều, T liền tiến lại gần nói chuyện và hỏi mua được của người đàn ông dân tộc Mông đó 01 gói Heroine với giá 200.000VNĐ. Sau khi mua được ma túy, T đi vào b i tre ven đường trích ra một ít Heroine để sử d ng bằng hình thức đốt, hít vào cơ thể. Số ma túy còn lại, T cất giấu vào túi quần đang mặc rồi đi bộ về phòng trọ. Đến sáng ngày 24/4/2022, T đi chợ và mua đồ dùng sinh hoạt hết 1.300.000VNĐ, sau đó T có đến phòng trọ của T để hỏi xe mô tô thì T nói đã mang xe đi cầm cố lấy tiền và hẹn T đến ngày 25/4/2022 sẽ lấy xe mang về cho T và T đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 30’ cùng ngày, khi T đang phòng trọ vẫn cất giấu ma túy trong người thì bị tổ công tác của Công an Thị trấn S đến phòng trọ kiểm tra công tác lưu trú đã phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên. Đến ngày 26/4/2022, chị Lò Thị T đã đến nhà anh Lo trả tiền và lấy lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α BKS 29U5 – 5505, sau đó giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã.
Cáo trạng số: 100/CT-VKSSM ngày 11 tháng 8 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Lò Minh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định chung; miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền) cho bị cáo; vật chứng tịch thu xử lý theo quy định của pháp luật; về dân sự: Bà Lò Thị T không có yêu cầu gì nên không xem xét; bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến tranh luận, sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
- Hồi 21 giờ 30 phút ngày 24/4/2022, Lò Minh T bị tổ công tác Công an thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ được là 01 gói chất bột màu trắng, theo kết luận giám định là ma túy, thuộc loại Heroine, có khối lượng 0,15 gam, m c đích Tàng trữ để sử d ng.
- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới.
Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận: Bị cáo Lò Minh T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là (tái phạm) quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, do tại bản án số 88/2007/HSST ngày 10/8/2007, bị cáo bị xử phạt 14 năm tù về tội Mua bán; Chứa việc sử d ng trái phép chất ma tuý (chưa được xoá án tích). Do đó, bị cáo sẽ phải chịu mức hình phạt cao hơn so với cùng loại tội phạm có cùng khối lượng ma tuý.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
5] Về vấn đề khác liên quan:
- Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, tại khu vực bản P, Mai Sơn, Sơn La. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể người này nên Cơ quan điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Đối với hành vi bị cáo dùng xe mô tô của bà Lò Thị T để vật làm tin, vay tiền của ông Mùa A L và quá trình bà T cho bị cáo mượn xe, bà T - ông L đều không biết bị cáo sử d ng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra xác định bị cáo không có ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô, sau khi cầm cố chiếc xe bị cáo đã nói lại với bà T và bảo vợ là bà Lò Thị P trả tiền cho bà T đi chuộc lại chiếc xe, bà T không có đề nghị xử lý đối với bị cáo nên Cơ quan CSĐT Công an huyện không đặt vấn đề xử lý bị cáo về tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là có căn cứ. Chiếc xe mô tô là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn C, trú tại tổ dân phố 3, thị trấn S, huyện Sông Mã cho bà Lò Thị T mượn để sử d ng, chiếc xe mô tô không phải là vật chứng của v án khác, nên cơ quan Điều tra đã trả lại cho bà Lò Thị T là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về dân sự: Bà Lò Thị T không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
6] Vật chứng của v án còn lại: 0,11gam Heroine; 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.
7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thu nhập ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên được miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền).
Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn, nên phải chịu án phí theo quy định chung.
Đối với quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Minh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Lò Minh T 20 (hai mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín, chứa: 01 túi Nilon màu trắng, 01 mảnh Nilon màu trắng chứa vật chứng ký hiệu L có khối lượng 0,11 gam nghi là Heroine và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m ”.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 94 ngày 11/8/2022 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
Chấp nhận việc cơ quan Điều tra trả lại chiếc xe mô tô cho người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là bà Lò Thị T.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 25/8/2022.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La - S Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện; - THA hình sự; - CCTHA Dân sự; - Bị cáo; người có QL,NVLQ; - Lưu: Hồ sơ; án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |