vanban.org

Bản án 160/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 01/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 02 phong bì tang vật niêm phong số 936/2021- PC09; 01 ống hút màu trắng bằng nhựa, kích thước 29 cm, đường kính 0,5 cm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2021 giữa Cơ quan cảnh sát đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HUỲNH NGỌC Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 160/2021/HS-ST
Ngày:
01 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Tú;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Tư; ông Cầm Văn Nam;

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Vương Khả Nhật Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 157/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2021/QĐXXST

- HS, ngày 15 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Ngọc H; tên gọi khác: Đ; sinh năm: 1992; tại: Quảng Ngãi; giới tính: Nam; NĐKNKTT: Tổ M, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Phòng trọ số K, dãy nhà trọ hẻm H, đường H, phường L, TP. B, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông: Huỳnh Ngọc M và bà Nguyễn Thị Th; vợ: Trương Phương A, sinh năm 1998 (đã ly hôn); con: Có 01 người con sinh năm 2016, hiện ở với mẹ tại huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 23/7/2021 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 23/7/2021 Huỳnh Ngọc H đến khu vực đường M, Phường X, TP. B gặp và mua 01 gói ma túy của đối tượng tên L (không rõ lai lịch) với giá 1.800.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó H mang gói ma túy về phòng trọ số B, dãy nhà trọ hẻm H, đường H, phường L, TP. B thì gặp Trần Thanh H và Trương Thị Uyển M nhưng không nói cho My và Hùng biết việc tàng trữ ma túy. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ của H thì phát hiện trong túi quần Jean phía trước bên trái mà Huỳnh Ngọc H đang mặc có 01 gói nylon màu trắng kích thước (04 x 06)cm, có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu cam, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (Nghi là chất ma túy). Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gói nilon nêu trên và 01 ống hút màu trắng bằng nhựa, dài 29cm, đường kính 0,5cm (Dùng để sử dụng ma túy).

Kết luận Giám định số 936/GĐ-PC09 ngày 26/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, xác định: Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,5782g, loại Methamphetamine. (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT; 323, Nghị định 73 ngày 15/8/2018 của Chính phủ).

Tại bản Cáo trạng số 158/CT-VKSBL, ngày 07 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo H từ 18 đến 24 tháng tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 phong bì tang vật niêm phong số 936/2021- PC09; 01 ống hút màu trắng bằng nhựa, kích thước 29 cm, đường kính 0,5 cm. Buộc bị cáo H phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, thấy đúng với tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố B; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật.

Về căn cứ xác định tội: Ngày 23/7/2021 tại phòng trọ số B, dãy nhà trọ hẻm H đường H, phường L, TP. B, Huỳnh Ngọc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,5782 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của H đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đối chiếu lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.

Về tính chất mức độ, hậu quả hành của vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố B. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; quá trình điêu tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Huỳnh Ngọc H, hiện nay không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tách ra điều tra xử lý sau là có căn cứ.

Đối với Trần Thanh H và Trương Thị Uyển M không biết việc bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H và M là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về xử lý vật chứng: 02 phong bì tang vật niêm phong số 936/2021- PC09; 01 ống hút màu trắng bằng nhựa, kích thước 29 cm, đường kính 0,5 cm xét không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc H 01 (Một) năm, 06 ( Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 02 phong bì tang vật niêm phong số 936/2021- PC09; 01 ống hút màu trắng bằng nhựa, kích thước 29 cm, đường kính 0,5 cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Nợi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Lâm Đồng;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh Lâm Đồng;

- Sở tư pháp; -VKSND TP B;

- Công an TP. B

- Nhà tạm giữ;

- Người tham gia tố tụng;

- Chi cục T.H.A dân sự tp B;

Trịnh Đình Tú

- Lưu hồ sơ.

Vào hồi giờ ngày 01 tháng 12 năm 2021;

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B , tỉnh Lâm Đồng;

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Tư; ông Cầm Văn Nam;

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 157/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021 đối với: Bị cáo Huỳnh Ngọc H (Đức), sinh năm 1992; tại: Quảng Ngãi;

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ B

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG

–––––––––––––––––––––––––––––––––

–––––––––––––––

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN,

BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1/ Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc H 01 (Một) năm, 06 ( Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2021. Biểu quyết: 3/3;

2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 02 phong bì tang vật niêm phong số 936/2021- PC09; 01 ống hút màu trắng bằng nhựa, kích thước 29 cm, đường kính 0,5 cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).Biểu quyết: 3/3;

3/ Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. Biểu quyết: 3/3;

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo. Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút ngày 01 tháng12 năm 2021.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ