vanban.org

Bản án 160/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 03/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Anh T, Trần Văn T1 và Trần Thiện L phạm tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” và tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”. 1. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Anh T 09 (chín) tháng tù về tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” và 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Anh T và đồng phạm - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 160/2021/HS-ST
Ngày: 03-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Từ Minh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Yến và ông Nguyễn Thanh Luật;

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2021/TLST- HS ngày 29 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 151/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Văn Anh T, sinh năm 2001 tại Nam Định. Nơi cƣ trú: 13F/13 khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Phụ giúp gia đình; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S, sinh năm 1972 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1979; bị cáo có vợ tên Phạm Thị Mỹ H1. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 22/10/2020 đến ngày 19/01/2021 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; đến ngày 25/5/2021 bị bắt, tạm giam.

2/ Trần Văn T1, sinh năm 2000 tại Bình Phƣớc. Nơi cƣ trú: B193 khu phố P, phƣờng N, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2, sinh năm 1973 và bà Trần Thị H2, sinh năm 1980; bị cáo chƣa có vợ con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 28/5/2021.

3/ Trần Thiện L, sinh năm 1999 tại Bình Dƣơng. Nơi cƣ trú: 20 Lô B5, khu phố T, phƣờng L, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Y, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1963; bị cáo chƣa có vợ con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 09/02/2021.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Tạ Văn S1, sinh năm 1983; nơi cƣ trú: Thôn Q, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin vắng mặt

Ngƣời làm chứng: Ông Nguyễn Hữu T4, ông Bùi Xuân N và ông Phạm Văn S. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 05 giờ ngày 22/10/2020, xuất phát từ việc hiểu lầm ông Tạ Văn S1 có hành vi tranh giành khách với quán cà phê của gia đình mình, Phạm Văn Anh T đã rủ rê hai đối tƣợng Trần Văn T1 và Trần Thiện L đến tại quán cà phê “N và tình bạn” do ông Tạ Văn S1 làm chủ có địa chỉ 58/434/20 khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng để đập phá quán và đánh dằn mặt ông S1. Thực hiện ý định trên, T1 điều khiển xe mô tô (hiện chƣa xác định đƣợc biển số) chở T và L đi từ quán karaoke V (phƣờng P, thành phố T) đến quán của ông S1. Khi đến nơi, khi thấy ông S1 đang dọn dẹp quán thì T lên tiếng chửi, thấy vậy ông S1 có nói lời xin lỗi với T. Khi nghe ông S1 xin lỗi, T liền cầm mũ bảo hiểm đánh vào đầu, vai ông S1 khoảng 2-3 cái làm vỡ mũ. T tiếp tục dùng tay đánh vào mặt và dùng chân đá vào ngƣời ông S1. Cùng lúc này, L và T1 cũng xông vào dùng tay, chân đánh ông S1. Đồng thời, L, T1 và T cũng dùng ghế, khung sắt có sẵn trong quán đập phá, gây hƣ hỏng các tài sản của ông S1, bao gồm: 01 tivi nhãn hiệu Asanzo loại 55inches bị bể tấm kính phía trƣớc, 01 bình thủy điện nhãn hiệu Asanzo loại 6,2 lít, 01 tủ cá bị bể tấm kính mặt trƣớc, 02 cái bàn gỗ bị gãy, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 69N1 – 268.46 bị bể đồng hồ và mặt nạ. Lúc bị đánh, ông S1 bỏ chạy ra ngoài đƣờng thì bị T đuổi theo dùng tay nắm tóc, nắm cổ áo và kẹp cổ ông S1, bắt ông S1 ngồi lên xe mô tô do T1 điều khiển chở ông S1 và T ngồi phía sau chạy về quán cà phê P của gia đình T cách quán ông S1 khoảng 100m để ông S1 xin lỗi gia đình T. Khi đến quán cà phê P, T kéo ông S1 vào quán tiếp tục dùng tay, chân đánh ông S1. Lúc này, T1 và L cũng định xông vào đánh ông S1 nhƣng đƣợc ông Phạm Văn S (ba của T) và ngƣời dân can ngăn, đƣa ông S1 đi bệnh viện.

Ngày 02/11/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận 01 tivi nhãn hiệu Asanzo loại 55inches bị bể kính màn hình có giá trị 4.400.000đồng, 01 bình thủy điện nhãn hiệu Asanzo loại 6,2 lít bị hƣ có giá trị 400.000đồng, 01 tấm kính (tủ cá) kích thƣớc 0,6x1,2m bị bể có giá trị 360.000đồng, 02 cái bàn gỗ bị gãy có giá trị 320.000đồng, 01 xe mô tô nhãn hiện Honda Airblade biển số 69N1 – 268.46 bị bể đồng hồ và mặt nạ có giá trị 2.250.000đồng; tổng giá trị là 7.730.000đồng (bảy triệu bảy trăm ba mƣơi nghìn đồng).

Ngày 21/12/2020, Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 630/2020/GĐPY của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng xác định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên cho ông Tạ Văn S1 hiện tại là 09%. Ngày 22/10/2020, ông S1 có yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tƣợng gây thƣơng tích. Đến ngày 28/02/2021, do bị hại có đơn rút yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định tách vụ án hình sự và Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can về hành vi “Cố ý gây thƣơng tích”.

Tại bản Cáo trạng số 153/CT-VKS -TA ngày 28/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Phạm Văn Anh T, Trần Văn T1 và Trần Thiện L về tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố , đánh giá tính chất, mức độ, hâ ̣u quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Phạm Văn Anh T từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”; bị cáo Trần Văn T1 từ 07 tháng đến 10 tháng tù về tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” và từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”; bị cáo Trần Thiện L từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” và từ 07 tháng đến 10 tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”.

Đối với hành vi cố ý gây thƣơng tích: Công an thành phố Thuận An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 03 bị cáo là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 tivi nhãn hiệu Asanzo loại 55inches bị bể màn hình, 01 bình thủy điện nhãn hiệu Asanzo loại 6,2 lít bị hƣ hỏng, 02 cái bàn gỗ bị gãy và 01 khung sắt đƣợc hàn nhiều đoạn. Qua điều tra xác định đây là các tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Tạ Văn S1, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại xe cho ông S1 là đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đồng thời bị hại đã đƣợc gia đình bị cáo T bồi thƣờng số tiền 150.000.000đồng và không yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn Anh T, Trần Văn T1 và Trần Thiện L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 22/10/2020, tại quán cà phê “N và tình bạn” có địa chỉ 58/434/20 khu phố Đ, phƣờng B, thành phố T, bị cáo T rủ rê các bị cáo T1 và L có hành vi đập phá tài sản của bị hại Tạ Văn S1 với tổng giá trị 7.730.000đồng và bắt ông S1 lên xe chạy về quán cà phê của gia đình T trái với ý muốn của ông S1.

Do đó, Cáo trạng truy tố các bị cáo Phạm Văn Anh T, Trần Văn T2 và Trần Thiện L về tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức đƣợc hành vi đập phá tài sản của bị hại, bắt ép ngƣời khác di chuyển đến địa điểm khác trái với ý muốn của họ mà không đƣợc pháp luật trao quyền là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, các bị cáo đã bất chấp hậu quả xâm phạm thân thể và tài sản của ngƣời khác, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản và quyền tự do của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy phải xét xử mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đây là vụ án có đồng phạm nhƣng mang tính giản đơn, tuy nhiên cũng cần phân hóa vai trò của các bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo T là ngƣời chủ mƣu, rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác, bị cáo T1 trực tiếp thực hiện hành vi đập phá tài sản và cùng với T bắt bị hại chở sang địa điểm khác, bị cáo L trực tiếp thực hiện hành vi đập phá tài sản, tuy không trực tiếp thực hiện hành vi bắt ngƣời nhƣng L đã đi theo với mục đích giúp sức và sau đó tiếp tục có hành vi tấn công bị hại cùng với T và T1, thể hiện bị cáo L có vai trò không đáng kể. Do đó, mức hình phạt áp dụng đối với T phải ở mức cao hơn T1, mức hình phạt áp dụng đối với T1 phải cao hơn L.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đƣợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo T đã tác động gia đình bồi thƣờng thiệt hại và có ông bà nội là ngƣời có công với cách mạng, đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng Huân, Huy chƣơng kháng chiến nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo T.

Đối với hành vi cố ý gây thƣơng tích cho bị hại: Bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã ra quyết định tách vụ án, quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 tivi nhãn hiệu Asanzo loại 55inches bị bể màn hình, 01 bình thủy điện nhãn hiệu Asanzo loại 6,2 lít bị hƣ hỏng, 02 cái bàn gỗ bị gãy và 01 khung sắt đƣợc hàn nhiều đoạn. Qua điều tra xác định đây là các tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Tạ Văn S1, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại xe cho ông S1 là đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đồng thời bị hại đã đƣợc gia đình bị cáo T bồi thƣờng số tiền 150.000.000đồng và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Văn Anh T;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Trần Văn T1 và Trần Thiện L;

Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Anh T, Trần Văn T1 và Trần Thiện L phạm tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” và tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”.

1.1. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Anh T 09 (chín) tháng tù về tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” và 01 (một) năm tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2021, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2020 đến ngày 19/01/2021.

1.2. Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 07 (bảy) tháng tù về tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” và 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2021.

1.3. Xử phạt bị cáo Trần Thiện L 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt ngƣời trái pháp luật” và 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý làm hƣ hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí:

Buộc các bị cáo Phạm Văn Anh T, Trần Văn T1 và Trần Thiện L mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ