- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông N Út N. Ông N Văn B, ông N Văn B1, ông N Thanh P, bà Nguy n Thị B T.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
| T N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 160/2021/DS-PT Ngày: 07 – 5 – 2021 V/v tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M
TÒA N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c Vạng.
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đạt;
Bà Phạm Thị Liên Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông N Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- i i n i n i m t nh n n t nh ồng Th p: Bà Vũ Thị Thu Hằng - iểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 23/4/2021 và 07/5/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp t ử ph c th m c ng khai vụ án thụ lý số 377/2020/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2020, về việc tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ th m số 22/2020/DS-ST ngày 24/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố S bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử ph c th m số 426/2020/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông N Út N, sinh năm 1972; địa ch : ấp , ã Đ, thành phố S, t nh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị N, sinh năm 1957, địa ch : đường T, tổ M, Khóm H, Phường B, Thành phố C, t nh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 05/8/2020). Có mặt
2. Bị đơn: Bà Lương Ng c H, sinh năm 1968; địa ch : ấp , ã Đ, thành phố S, t nh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Hứa Văn Đ, sinh năm 1967; địa ch : Số 135, ấp , ã Đ, thành phố S, t nh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 13/01/2020). Có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông N Văn B, sinh năm 1962; địa ch : ấp , xã Đ, thành phố S, t nh Đồng Tháp.
3.2. Ông N Văn B1, sinh năm 1964; địa ch : Số 160/1, ấp , ã Đ, thành phố S, t nh Đồng Tháp.
3.3. Ông N Thanh P, sinh năm 1984; địa ch : ấp , ã Đ, thành phố S, t nh Đồng Tháp.
3.4. Bà Nguy n Thị B T, sinh năm 1968; địa ch : Số 385A, ấp , xã Đ, thành phố S, t nh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền của ông B, ông B1, ông P, bà Bé T: Bà Võ Thị N, sinh năm 1957, địa ch : đường T, tổ M, Khóm H, Phường B, Thành phố C, t nh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 28/02/2020).
3.5. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển N ng th n Việt Nam- Chi nhánh thành phố S.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh H, chức vụ: Giám đốc.
Địa ch : đường T, Phường H, thành phố S, t nh Đồng Tháp. Có đơn xin vắng mặt
4. Người kháng cáo:
Ông N Út N - là nguyên đơn.
Ông N Văn B, ông N Văn B1, ông N Thanh P, bà Nguy n Thị B T - là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ N:
- Bà Võ Thị N là người đại diện theo ủy quyền của ông N Út N, ông N Văn B, ông N Văn B1, ông N Thanh P, bà Nguyễn Thị Bé T trình bày: Thửa đất 73, diện tích 558,8m2 và thửa 890, diện tích 994,8m2 cùng tờ bản đồ số 20, tại ấp , ã Đ, thành phố S có nguồn gốc của mẹ ng Út N tên Ng Thị S quản lý sử dụng trước năm 1975 và được UBND thị ã (nay là thành phố) S cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ bà Ng Thị S. Năm 2007, bà S cho bà Lương Ng c H thuê 02 thửa đất trên để trồng l a, thời hạn thuê 10 năm (từ năm 2007 đến năm 2017), giá thuê 20.000.000đồng/10 năm. Việc bà S cho bà H thuê đất hai bên có làm giấy tay (lập 01 bản) do bà H giữ, bên bà S kh ng có giữ và số tiền thuê 20.000.000 đồng bà H giao đủ cho bà S nhận khi thỏa thuận. hi bà S cho bà H thuê đất thì đưa bản chính giấy chứng nhận QSDĐ cho bà H giữ.
Đối với giấy bán đất ruộng ngày 26/02/2007 bà H cung cấp cho Tòa án có nội dung “bà S bán đất ruộng diện tích khoảng 1.300m2 cho bà Lương Ngọc H, giá 70.000.000 đồng, đưa trước 50.000.000 đồng, khi làm giấy đỏ xong chủ mua sẽ trả đủ” có chữ ký tên người bán Ng Thị S, ngoài bà S còn có chữ ký tên, viết h tên Nguy n Út N. Ông Út N ác định chữ ký tên, chữ viết h tên Nguy n Út N mặt sau của giấy bán đất ruộng ngày 26/02/2007 là do ng Út N ký tên, viết h tên, mục đích ng Út N ký tên là đồng ý việc bà S cho bà H thuê đất, chứ kh ng phải bán đất. Còn dòng chữ phía trên chữ ký, chữ viết Nguy n Út N ghi “con đồng ý bán” cũng như nội dung giấy bán đất ruộng và chữ ký tên Ng Thị S thì ông Út N kh ng biết do ai viết và ng Út N cũng kh ng yêu cầu giám định nội dung giấy bán đất và chữ ký tên Ng Thị S. Tại thời điểm năm 2007 thì bà S sống chung với ng Út N.
Đồng thời, ông B (con bà S) thừa nhận ngày 20/8/2009 có đến nhà bà H mượn lại giấy chứng nhận QSDĐ do bà S đứng tên, để làm thủ tục chia thừa kế, khi mượn giấy đất ông B có viết, ký tên vào tờ cam kết đưa cho bà H giữ, tờ cam kết có nội dung “trước đây mẹ tôi có bán cho bà Lương Ngọc H một miếng đất khoảng 1.300m2, ngày nhận đủ tiền 03/4/2007. Nay nhưng chưa tách sổ đỏ được, vì mẹ tôi mất nên tôi mượn lại sổ đỏ để tách sổ ra cho anh em, đồng thời bên bán tách sổ cho bên mua đất là bà H. Khi tôi làm sổ xong tôi trả lại sổ cho bà H. Nếu có gì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm”.
Ngày 05/4/2008, bà S chết kh ng để lại di ch c (hàng thừa kế thứ nhất của bà S gồm ông B, ông B1, ông P, ông N, bà T) nên khoảng tháng 10/2009 các anh chị, em ng Út N gồm ông B, ông B1, ông P, bà T, ông Út N cùng thỏa thuận chia di sản thừa kế trong đó có thửa đất tranh chấp, thống nhất giao cho ông Út N đăng ký kê khai và UBND thành phố S cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa số 73, diện tích 558,8m2 ngày 03/02/2010, thửa 890, diện tích 994,8m2 ngày 28/01/2010 cho ông Út N đứng tên. Mặc dù, ng Út N được cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với 02 thửa đất trên, nhưng thực tế ng Út N vẫn để cho bà H sử dụng đất, vì khi còn sống bà S thỏa thuận cho bà H thuê đến năm 2017 mới hết hạn và việc bà S cho bà H thuê đất thì ng Út N cùng các anh, chị, em đều biết và trong giấy thỏa thuận thuê đất ng Út N có ký tên, nhưng phía bà S kh ng có giữ giấy thuê đất.
Năm 2018, ông N yêu cầu bà H di dời tài sản đi nơi khác trả lại thửa đất 73, thửa 890 cùng tờ bản đồ số 20, bà H kh ng đồng ý nên phát sinh tranh chấp. Hiện giấy chứng nhận QSDĐ thửa 890, thửa 73 và thửa 843 ng Út N thế chấp cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông th n Việt Nam -Chi nhánh S (Ngân hàng NN&PTNT S) vay số tiền 500.000.000đ, thời hạn vay 05 năm (đến ngày 05/3/2024).
Trên đất tranh chấp có căn nhà trệt, kết cấu khung gỗ, vách tole, mái tole, nền i măng ây dựng năm 2012 (bà H để đồ dùng sản uất bong bóng cá, kh ng có ai ở sử dụng), khi bà H ây dựng nhà thì gia đình bà S (các con bà S) không có tranh chấp; các cây trồng gồm: Sao 05 cây, Dừa 03 cây, Xoài 06 cây, Chuối 126 cây, giàn dùng để phơi bong bóng cá. Ngoài ra, kh ng còn tài sản gì khác và tất cả các tài sản trên là của bà H và do bà H đang quản lý, sử dụng. Riêng 06 ng i mộ của ai thì ông Út N kh ng biết (theo biên bản định giá 05/3/2020). Quá trình sử dụng đất, bà H có san lấp cát trên 02 thửa đất tranh chấp khối lượng 1.348m3 và theo biên bản th m định, định giá ngày 05/3/2020 của Hội đồng định giá khối lượng cát san lấp 1.348m3, thành tiền 134.800.000 đồng.
Nay ông Út N yêu cầu bà H di dời tài sản trả lại diện tích đất 980,4m2 thửa 890 và diện tích 546,5m2 thửa 73 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/3/2020 cho ông Út N. Ông Út N đồng ý trả giá trị cát san lấp, các cây trồng cho bà H. Đối với căn nhà, giàn dùng để phơi bong bóng cá ng Út N kh ng đồng ý bồi thường thiệt hại (do di dời được), về các ng i mộ trên đất ng Út N đồng ý giữ nguyên hiện trạng, kh ng yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với yêu cầu phản tố của bà H về việc yêu cầu những người đồng thừa kế của bà S tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thửa 890 thửa 73 thì các đồng thừa kế của bà S kh ng đồng ý.
Đối với vợ ng Út N là bà Trang Thị Y ác định phần đất đang tranh chấp là ng Út N nhận thừa kế từ bà S. Do đó, bà Yến kh ng tranh chấp, không có yêu cầu gì trong vụ án và in từ chối tham gia tố tụng.
- Ông Hứa Văn Đ là đại diện theo ủy quyền của bà Lương Ngọc H trình bày: Ngày 26/02/2007, bà S chuyển nhượng cho bà H diện tích 1.300m2, đất lúa (có giấy viết tay nhưng kh ng ghi rõ thửa, tờ bản đồ), giá chuyển nhượng 70.000.000 đồng. Ngày 26/02/2007, bà H giao cho bà S nhận trước 50.000.000 đồng, còn 20.000.000 đồng thỏa thuận khi nào làm thủ tục giấy tờ ong bà H giao cho bà S nhận đủ. Sau đó, do bà S bệnh nặng cần tiền để điều trị bệnh nên ngày 03/4/2007 bà H giao tiếp cho bà S 20.000.000đ còn lại, việc giao nhận tiền thể hiện trong giấy bán đất ngày 26/02/2007 giao số tiền 50.000.000đồng và ngày 03/4/2007 bà H giao tiếp 20.000.000 đồng.
Trong hợp đồng chuyển nhượng bằng giấy tay ngày 26/02/2007 bên bán bà S ký tên, ghi h tên, bên mua bà H ký tên, ghi h tên và ông Út N ký tên, ghi h tên. Việc bà S chuyển nhượng đất cho bà H các con bà S đều biết, không ai có ý kiến gì. Bà S đã giao đất cho bà H sử dụng và giao bản chính giấy chứng nhận QSDĐ cho bà H giữ, việc giao đất hai bên kh ng có làm giấy tờ, nhưng thực tế bà H sử dụng đất từ năm 2007 đến nay. Ngày 20/8/2009, ông B hỏi bà H mượn giấy tờ đất để tách thửa cho anh em và ông B có viết tờ cam kết ngày 20/8/2009 đưa cho bà H giữ. Bà H sử dụng đất từ năm 2007 đến năm 2018 nhưng chưa làm thủ tục sang tên là do các con bà S đi làm ăn xa. Năm 2019, bà H yêu cầu làm thủ tục sang tên thì ng Út N, ông B kh ng đồng ý và cho rằng bà H thuê đất của bà S, nên phát sinh tranh chấp.
Trên đất tranh chấp có căn nhà kết cấu khung gỗ, vách tole, mái tole, nền i măng ây dựng năm 2012 (bà H để đồ dùng sản uất bong bóng cá); các cây trồng, giàn dùng để phơi bong bóng cá của bà H; san lấp cát khối lượng 1348m3; các ng i mộ của chủ đất trước (kh ng rõ của ai).
Nay bà H kh ng đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì phần đất tranh chấp bà S chuyển nhượng bằng giấy tay cho bà H 26/02/2007. Bà H yêu cầu những người đồng thừa kế của bà S gồm ng Út N, ông B, ông B1, ông P, bà T tiếp tục thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại đối với diện tích 980,4m2 thửa 890 và diện tích 546,5m2 thửa 73 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/3/2020 cho bà H đứng tên, vì bà H đã trả tiền chuyển nhượng ong và được giao đất sử dụng từ năm 2007 đến nay.
Trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu của ng Út N buộc bà H giao trả đất cho ng Út N thì bà H yêu cầu ng Út N trả chi phí san lấp cát, giá trị các cây trồng và căn nhà đã định giá ngày 05/3/2020. Riêng giàn dùng để phơi bong bóng cá thì bà H tự di dời.
- Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh S ý kiến như sau: Ngày 05/3/2019, Ngân hàng có ký hợp đồng tín dụng số 6501-LAV 20201 900 508 cho ông Út N vay số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay 05 năm (đến ngày 05/3/2024), khi vay ng Út N thế chấp cho Ngân hàng 03 giấy chứng nhận QSDĐ thửa 890, thửa 73 và thửa 843 mang tên Nguy n Út N. Quá trình vay ông Út N trả vốn, lãi đ ng theo thỏa thuận và hiện tại số tiền vay chưa đến hạn trả. Do đó, Ngân hàng ác định kh ng yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án này. Trường hợp, Tòa án c ng nhận QSDĐ cho bà H và buộc ng Út N giao QSDĐ tranh chấp cho bà H thì Ngân hàng thực hiện theo bản án và kh ng có ý kiến gì. Ngoài ra, Ngân hàng kh ng có ý kiến gì khác.
- Bản án dân sự sơ th m của Tòa án nhân dân thành phố S đã quyết định:
h ng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông N Út N về việc “Tranh chấp QSDĐ (đòi lại QSDĐ)” yêu cầu bị đơn bà Lương Ng c H di dời trả lại diện tích đất tranh chấp.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lương Ng c H về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ” yêu cầu những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà S gồm ông N Út N, ông N Văn B, ông N Văn B1, ông N Thanh P, bà Nguy n Thị B T liên đới tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng.
Buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà S gồm ông N Út N, ông N Văn B, ông N Văn B1, ông N Thanh P, bà Nguy n Thị B T liên đới tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ thửa 73 tại các mốc Ml, M2, M3, M4 đến M1 và thửa 890 tại các mốc M5, M6, M7, M8 đến M5 theo sơ đồ đo đạc ngày 25/6/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S cho bà Lương Ng c H (hiện bà H đang quản lý, sử dụng).
Buộc những người những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà S gồm ông N Út N, ông N Văn B, ông N Văn B1, ông N Thanh P, bà Nguyên Thị B Tư liên đới giao phần đất chuyển nhượng thửa 73 tại các mốc Ml, M2, M3, M4 đến M1 và thửa 890 gồm các mốc: M5, M6, M7, M8 đến M5, t a lạc tại ấp , ã Đ, thành phố S do ông N Út N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo sơ đồ đo đạc ngày 25/6/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S cho bà H được quyền quản lý, sử dụng.
Bà Lương Ng c H được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất diện tích 546,5m2 gồm các mốc: Ml, M2, M3, M4 đến M1 thuộc thửa đất số 73 và phần đất diện tích 980,4m2 gồm các mốc: M5, M6, M7, M8 đến M5 thuộc thửa đất số 890; cùng tờ bản đồ số 20, t a lạc tại ấp , ã Đ, thành phố S do ông N Út N đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ, theo Sơ đồ đo đạc ngày 25/6/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
(Có biên bản em t th m định tại chỗ và sơ đồ đo đạc ngày 25/6/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S kèm theo).
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có th m quyền để điều ch nh, đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Đề nghị ủy ban nhân dân thành phố S thu hồi, điều ch nh giấy chứng nhận QSDĐ do ông N đứng tên, cấp cho đương sự theo bản án đã tuyên.
Về chi phí em t, th m định tại chỗ và định giá: Ông N Út N chịu 5.088.000đ chi phí em t, th m định tại chỗ và định giá (ông N đã nộp và chi xong).
Về án phí dân sự sơ th m:
Ông N Út N chịu 600.000đ án phí dân sự sơ th m, số tiền tạm ứng án phí ông Út N đã nộp theo biên lai số 0004421 ngày 03/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S được khấu trừ vào án phí phải nộp. Sau khi khấu trừ, ng Út N được nhận lại số tiền 3.150.000đ.
Hoàn trả lại cho bà Lương Ng c H số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004495 ngày 20/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S.
Ngoài ra bản án sơ th m còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 05/8/2020 và ngày 07/8/2020 ông Út N, ông B, ông B1, ông P, bà Bé T kháng cáo toàn bộ bản án sơ th m. h ng đồng ý yêu cầu phản tố của bà H, kh ng đồng ý chuyển quyền sử dụng đất thửa 890, diện tích 994,8m2 và thửa 73 diện tích 558,8m2 cùng tờ bản đồ số 20, đất tại ấp , ã Đ, thành phố S, t nh Đồng Tháp cho bà H. Đồng thời, yêu cầu bà H giao trả các thửa đất và diện tích nói trên cho ông N.
- Tại phiên tòa ph c th m:
+ Bà Võ Thị N trình bày: Bà S chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) đối với thửa đất số 73, mà thửa đất này ng Út N được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, nên bà H cho rằng đã nhận chuyển nhượng là kh ng phù hợp. Vì vậy, yêu cầu em t lại bản án sơ th m và chấp nhận kháng cáo của ng Út N.
+ Ông Hứa Văn Đ trình bày: Bà H kh ng thỏa thuận được với ng Út N và các đương sự liên quan về việc giải quyết vụ án, yêu cầu giữ nguyên quyết định của bản án sơ th m và kh ng có cung cấp bổ sung chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát T nh phát biểu ý kiến về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến t ử tại phiên tòa Th m phán, Hội đồng t ử, và các đương sự thực hiện đ ng quy định của pháp luật.
Về nội dung: X t kháng cáo của ng Út N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kh ng đồng ý chuyển QSDĐ thửa số 73 mà ch thống nhất giao thửa số 890 cho bà H, nhưng yêu cầu kh ng buộc các anh chị em liên đới thực hiện. Nhận thấy, nguồn gốc đất tranh chấp là của bà S sử dụng trước năm 1975 và bà S chuyển nhượng cho bà H theo giấy viết tay ngày 26/02/2007, diện tích 1.300m2 (đất l a nhưng kh ng ghi rõ thửa, tờ bản đồ), giá 70 triệu đồng, bà S đã nhận đủ tiền và giao đất, giấy chứng nhận QSDĐ cho bà H quản lý, sử dụng. Sau khi bà S chết, các anh chị em của ông Út N thỏa thuận chia thừa kế giao cho ông Út N thửa đất số 73, 890 và ng Út N được cấp giấy chứng nhận ngày 28/01/2010.
Ông Út N và các anh chị em của ng kh ng đồng ý chuyển QSDĐ thửa số 73 là kh ng có cơ sở, vì: Năm 2017, bà Sáu làm giấy tay bán đất cho bà H; tại phiên tòa ph c th m bà N thống nhất với kết luận giám định chữ ký, chữ viết h tên là của ng Út N. Việc chuyển nhượng tuy chưa phù hợp về hình thức, nhưng đã giao đất và giấy chứng nhận cho bà H và bà H đã cất nhà, san lấp cát, trồng cây lâu năm từ năm 2007, nhưng các con bà S cũng kh ng có tranh cản gì. Mặt khác, ông B làm tờ cam kết ngày 20/8/2009, thừa nhận bà S bán đất và in mượn lại giấy chứng nhận từ bà H để làm thủ tục phân chia thừa kế. Ngoài ra, các đương sự kháng cáo cũng kh ng có chứng cứ chứng minh bà S cho thuê đất. Do đó, Tòa án cấp sơ th m buộc các đồng thừa kế của bà S tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cho bà H là có căn cứ.
Tuy nhiên, hiện nay giấy chứng nhận QSDĐ đang thế chấp vay tiền Ngân hàng N ng nghiệp và Phát triển n ng th n Việt Nam, Chi nhánh thành phố S (Ngân hàng NN&PTNT S), theo hợp đồng số 6501-LAV 20201 900 508. Ngân hàng ác định kh ng yêu cầu gì trong vụ án này, kh ng có ý kiến gì khi Tòa án c ng nhận QSDĐ cho bà H và buộc ng Út N giao đất thì Ngân hàng thực hiện theo bản án và ng Đ thống nhất theo ý kiến của Ngân hàng do tài sản của ng Út N thế chấp còn lại đủ bảo đảm cho khoản vay. Bà Yến (vợ ông Út N) ác định đất tranh chấp là của ng Út N nhận thừa kế, nên bà Yến kh ng có yêu cầu gì trong vụ án này và in từ chối tham gia tố tụng, nên t thấy cần hủy một phần hợp đồng thế chấp QSDĐ đối với thửa số 73, 890 là phù hợp. Do đó, đề nghị kh ng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Út N, ông B, ông B1, ông P, bà T; sửa một phần bản án sơ th m.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được th m tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦ T
N:
[1] Ông Út N khởi kiện đối với bà H về việc tranh chấp QSDĐ, hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Do đó, Tòa án thành phố S thụ lý giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật. Ông Út N, ông B, ông B1, ông P, bà T ủy quyền cho bà N; bà H ủy quyền cho ng Đ; đại diện Ngân hàng NN&PTNT S có đơn in t ử vắng mặt, các thủ tục phù hợp quy định nên chấp nhận. Ông Út N, ông B, ông B1, ông P, bà T kháng cáo trong thời hạn luật định là hợp lệ.
[2] Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà S, diện tích 994,8m2 thửa 890 giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ông Út N ngày 28/01/2010 và diện tích 558,8m2 thửa 73 cấp giấy CNQSDĐ cho ng Út N ngày 03/02/2010, đều thuộc tờ bản đồ số 20, đất tại ã Tân hánh Đ ng, thành phố S, ĐT. Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2019, ng Út N đã ác định 02 thửa đất tranh chấp đều là của bà S được cấp trước năm 1975; ng Út N cho rằng, việc bà H sử dụng đất là do bà S cho thuê để canh tác l a, thời hạn là 10 năm tính từ năm 2007 đến năm 2017 và giấy thuê đất giao cho bà H giữ. Bà H kh ng thừa nhận thuê đất mà cho rằng đã chuyển nhượng thể hiện tại giấy bán đất ruộng ngày 26/02/2007 do bà S, bà H, ông Út N cùng ký tên và ông Út N tự ghi thêm nội dung “con đồng ý bán”. Bà S đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng 70.000.000đ theo biên nhận ngày 03/4/2007. Đồng thời, ông B viết tờ cam kết ngày 20/8/2009, nội dung xác nhận bà S chuyển nhượng đất cho bà H khoảng 1.300m2, bà S đã nhận đủ tiền, nay bà S chết nên ông B mượn lại giấy chứng nhận để lập thủ tục chuyển quyền sử dụng cho bà H và các anh em của ông B. ết quả giám định của C ng an t nh Đồng Tháp (Số 342/ L- THS ngày 05/4/2021) kết luận: Chữ ký, chữ viết ghi h tên Nguy n Út N và dòng chữ “con đồng ý bán” là chữ ký, chữ viết của ng Út N. Chữ viết ghi h tên Nguy n Văn B tại tờ cam kết ngày 20/8/2009 là chữ viết của ông B; đối với chữ ký mang tên Nguy n Văn B tại tờ cam kết này so với chữ ký của ông B trên mẫu so sánh thì kh ng đủ cơ sở kết luận có phải do cùng một người ký ra hay kh ng, vì chữ ký mẫu so sánh kh ng cùng dạng. Vậy việc thỏa thuận chuyển nhượng như trình bày của ông Đ là có cơ sở.
Bà N trình bày, ông Út N đăng ký và được cấp giấy chứng nhận lần đầu đối với thửa đất số 73, nên ng Út N là người có QSDĐ hợp pháp, vì vậy bà H nhận chuyển nhượng là kh ng phù hợp. Trên thực tế, nguồn gốc đất là của bà S, việc thỏa thuận chuyển nhượng đất nói trên có sự đồng ý của ng Út N. Mặt khác, hợp đồng chuyển nhượng ch làm giấy viết tay, nhưng bà S đã nhận đủ tiền, bà H nhận đất sử dụng đã san lấp cát, cất nhà ở, sử dụng đất vào việc sản uất kinh doanh của gia đình (đã làm giàn phơi bong bóng cá) và trồng cây lâu năm không có ai ngăn cản. Ông Út N được cấp QSDĐ theo thủ tục nhận thừa kế tài sản của bà S nhưng đất đã chuyển nhượng cho bà H thì phải cùng với các đồng thừa kế của bà S thực hiện hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Do đó, bà N yêu cầu em t chấp nhận kháng cáo của Ông Út N, ông B, ông B1, ông P, bà T là kh ng có cơ sở.
Đối với việc ng Út N thế chấp QSDĐ tranh chấp để vay tiền, thì đại diện Ngân hàng NN&PTNT S ý kiến là kh ng có yêu cầu gì trong vụ tranh chấp giữa ông Út N với bà H và đồng ý thực hiện theo bản án của Tòa án. Tại phiên tòa ph c th m ng Đ trình bày như sau: Bà H kh ng đồng ý trả đất cho ng Út N, đồng thời Ngân hàng có đơn in t ử vắng mặt và cũng đã có ý kiến thống nhất giao QSDĐ cho bà H theo quyết định của Tòa án (nếu buộc ng Út N giao QSDĐ cho bà H), nên ng Đ thống nhất ý kiến của Ngân hàng. Bà Trang Thị Y có đơn trình bày (đơn ngày 17/7/2020, đã gửi Tòa án cấp sơ th m), ng Út N nhận thừa kế thửa đất 73, 890 và cơ quan có th m quyền cấp giấy chứng nhận cho ông Út N; về tranh chấp giữa ng Út N với bà H liên quan đến hai thửa đất này thì bà không có tranh chấp, kh ng khiếu nại và in từ chối tham gia tố tụng. Vì vậy, phải hủy một phần hợp đồng thế chấp số 20/TC ngày 01/3/2017 (sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 20/TC/HĐSĐBS ngày 05/3/2019, theo hợp đồng tín dụng số 6501-LAV-201900508 ngày 05/3/2019 giữa Ngân hàng NN&PTNT S với Nguy n Út N, bà Trang Thị Y) đối với hai thửa đất tranh chấp, nên sửa một phần bản án sơ th m.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp đề nghị kh ng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ng Út N, ông B, ông B1, ông P, bà T và sửa một phần bản án sơ th m là có cơ sở nên chấp nhận.
Do đó, kh ng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Út N, ông B, ông B1, ông P, bà T; sửa một phần bản án sơ th m. Các phần khác kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Ông Út N, ông B, ông B1, ông P, bà T không phải chịu tiền án phí dân sự ph c th m.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông N Út N. Ông N Văn B, ông N Văn B1, ông N Thanh P, bà Nguy n Thị B T.
Sửa một phần bản án sơ th m.
2. h ng chấp nhận yêu cầu của ông N Út N về việc yêu cầu bà Lương Ng c H di dời tài sản trả lại đất.
Hủy một phần hợp đồng thế chấp số 20/TC ngày 01/3/2017 (sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 20/TC/HĐSĐBS ngày 05/3/2019, theo hợp đồng tín dụng số 6501-LAV-201900508 ngày 05/3/2019 giữa Ngân hàng NN&PTNT S với ông N Út N, bà Trang Thị Yến) đối với thửa đất 890 giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho ng Út N ngày 28/01/2010 và thửa 73 cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ng Út N ngày 03/02/2010, đều thuộc tờ bản đồ số 20 (diện tích theo biên bản em t th m định tại chỗ ngày 05/3/2020 và sơ đồ đo đạc ngày 25/6/2020), đất tại ã Tân hánh Đ ng, thành phố S, t nh Đồng Tháp.
C ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/02/2007 (giấy bán đất ruộng) giữa bà Ng Thị S với bà Lương Ng c H. Buộc ông N Út N, ông N Văn B, ông N Văn B1, ông N Thanh P, bà Nguy n Thị B T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/02/2007.
Buộc ông N Út N giao quyền sử dụng đất do ông Út N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đo thực tế diện tích 546,5m2 thửa 73 tại các mốc Ml, M2, M3, M4 đến M1 và diện tích 980,4m2 thửa 890 tại các mốc M5, M6, M7, M8 đến M5 theo sơ đồ đo đạc ngày 25/6/2020 cho bà Lương Ng c H (hiện bà H đang sử dụng đất).
C ng nhận cho bà Lương Ng c H được quyền sử dụng đất diện tích 546,5m2 thửa đất số 73 và diện tích 980,4m2 thửa đất số 890; cùng tờ bản đồ số 20 nói trên; đất tại ấp , ã Đ, thành phố S, t nh Đồng Tháp.
(kèm theo biên bản em t th m định tại chỗ ngày 05/3/2020 và sơ đồ đo đạc ngày 25/6/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S).
Các đương sự được đến cơ quan nhà nước có th m quyền để điều ch nh, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Đề nghị cơ quan có th m quyền thu hồi, điều ch nh quyền sử dụng đất do ông N Út N đứng tên giấy chứng nhận, cấp cho bà H được quyền sử dụng đất diện tích nói trên.
3. Ông N Út N phải chịu chi phí xem xét, th m định tại chỗ và định giá số tiền là 5.088.000đ (ông N đã nộp và chi ong).
Ông N Út N và ông N Văn B phải liên đới chịu chi phí giám định số tiền là 5.970.000đ (đã nộp và chi ong).
4. Ông N Út N phải chịu 600.000đ án phí dân sự sơ th m, số tiền tạm ứng án phí ng Út N đã nộp 3.750.000đ theo biên lai số 0004421 ngày 03/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, t nh Đồng Tháp được khấu trừ vào tiền án phí. Vậy ông N được nhận lại số tiền 3.150.000đ.
Hoàn trả cho bà Lương Ng c H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.750.000đ theo biên lai số 0004495 ngày 20/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, t nh Đồng Tháp.
Ông N Út N, ông N Văn B, ông N Văn B1, ông N Thanh P, bà Nguy n Thị B T không phải chịu tiền án phí dân sự ph c th m. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí ph c th m cho ông Út N, ông B, ông B1, ông P, bà T mỗi người 300.000đ theo biên lai thu số 0001241 ngày 05/8/2020 và các biên lai thu số 0008251, 0008252, 0008253, 0008254 cùng ngày 10/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, t nh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - V SND T nh; - TAND Tp. S; - Chi cục THADS Tp. S; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PH N - CHỦ TỌ PHIÊN T Nguyễn Ngọc Vạng |