- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 160/2019/HSST Ngày 25/6/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Kam Ênuôl
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Long
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 142/2019/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: LÊ THANH H (Tên gọi khác: B ruồi), sinh năm 1982; Tại tỉnh: Đắk Lắk;
Nơi cư trú: 183/22 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Thanh H (đã chết) và con bà Phạm Thị N, sinh năm 1959. Hiện trú tại: 183/22 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Bị cáo có vợ là H’Đ Êban, sinh năm 1997 và có 02 con, con lớn sinh năm 2017 và con nhỏ sinh tháng 02 năm 2019. Hiện đều trú tại: 183/22 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 03/03/2009, bị Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Đắk Lắk, thời hạn 12 tháng, về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, tại Quyết định số 436/QĐ- UBND. Ngày 16/12/2009, chấp hành xong tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
- Theo bản án số 174/HSST ngày 06/12/1999 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột bị cáo bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đến ngày 29 tháng 3 năm 2000 Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm và tuyên phạt bị cáo 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, theo Bản án số 50/2000/HSPT. Ngày 28/10/2000 chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam Đắk Trung - Cục C10 - Bộ Công an (bị cáo đã được xóa án tích).
- Theo bản án số 397/HSST ngày 26/11/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị cáo bị xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đến ngày 30 tháng 5 năm 2002, bị Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng tuyên phạt 07 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo bản án số 382/2002/HSPT. Ngày 08/12/2007 chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam Gia Trung - Cục C10 - Bộ Công an (bị cáo đã được xóa án tích).
- Ngày 28 tháng 01 năm 2011, bị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 45/2011/HSST. Ngày 04/11/2012 chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam Gia Trung - Cục C10 - Bộ Công an, (bị cáo đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 05/10/2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột – Có mặt;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị N, sinh năm 1959. Địa chỉ: 183/22 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Chị H’Đ Êban, sinh năm 1997. Địa chỉ: 183/22 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
3. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1969. Địa chỉ: 14 T, phường T, thành phố B– Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thanh H là người nghiện chất ma túy loại Heroine và Methamphetamine từ năm 2000 cho đến nay. Vào khoảng thời gian tháng 8 năm 2018 thông qua mạng xã hội, H quen biết với một người đàn ông bán ma túy tên T, ở thành phố Hồ Chí Minh (chưa xác định nhân thân lai lịch) và đặt vấn đề mua của T ma túy loại Heroine và ma túy đá, thỏa thuận thanh toán và chuyển hàng qua đường xe khách. Đến cuối tháng 9 năm 2018, H đi đến nhà xe Th, tại địa chỉ: 14 T, phường T, thành phố B, đưa số điện thoại của T và số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho một người tài xế lái xe (chưa xác định nhân thân lai lịch) đem đến thành phố Hồ Chí Minh đưa cho T để đặt mua chất ma túy. Khoảng 02 ngày sau, H đến nhà xe Th nhận một gói hàng do T gửi. H đem về nhà kiểm tra thì thấy bên trong có 01 gói giấy vàng chứa chất rắn dạng cục màu trắng là ma túy loại Heroine; 02(hai) gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể là ma túy đá loại Methamphetamine và giấu trên phòng thờ tầng một nhà của H, tại địa chỉ 183/22 L, phường T, thành phố B nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Ngoài ra, vào khoảng thời gian tháng 6 năm 2018, H mua một khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, trên thân súng bên trái có in ký hiệu “SALIENT ARMS INTERNATIONAL, CAL 6MM”; trên thân súng bên phải có in ký hiệu “MADE IN TAIWAN 18420745” từ một người thanh niên tên K (chưa xác định nhân thân lai lịch), với số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng); một khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, trên thân súng bên trái có dập chìm ký hiệu “Cal 380 9mm k made in italy- MOD BRUNI NEW 380”; trên thân súng bên phải có khắc số “2017 J004273” từ một người chưa xác định nhân thân lai lịch, với số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng) và một khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, trên thân súng bên trái có ký hiệu “CAL.6mmSTART”, trên ốp tay cầm bên trái có in ký hiệu “Slavia MADE IN CZECHOSLOVAKIA” và có dập chìm số 080990 từ một người thanh niên chưa xác định nhân thân lai lịch với số tiền 100.000 đồng (Một trăm ngàn đồng) cùng đạn các loại đem về nhà cất giấu nhằm mục đích là để tự vệ. Đến sáng ngày 05 tháng 10 năm 2018, Cơ quan điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột kiểm tra nhà của H phát hiện thu giữ vật chứng gồm:
- 01 (một) gói giấy vàng chứa chất rắn dạng cục màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1;
- 01 (một) gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2;
- 01 (một) gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3.
- 05 túi nylon và 05 ống hút bằng nhựa, màu trắng;
- 04 viên đạn vỏ bằng kim loại có đầu đạn, kích thước như nhau 8cm x 0,7cm;
- 08 viên đạn bằng kim loại, kích thước như nhau 8,3cm x 0,3cm;
- 18 viên đạn bằng kim loại, kích thước như nhau 2,4mm x 3,8mm;
- 204 viên bi bằng kim loại, màu trắng, đường kính 03cm;
- 09 lọ bằng inox, màu trắng (trong đó, 07 lọ còn nắp bịt, 02 lọ không còn nắp bịt);
- 01 túi xách bằng vải, màu xám;
- 01 cân điện tử, màu đen, nhãn hiệu POCKET SCALE;
- 01 cân điện tử, màu đen, không rõ nhãn hiệu;
- 03 (ba) khẩu súng bằng kim loại (có đặc điểm như trên).
Tại bản kết luận giám định số: 889/GĐMT- PC09 ngày 09/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:
- Phong bì M1: Chất rắn dạng cục màu trắng đựng trong 01 gói giấy vàng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 21,3816 gam, loại: Heroine.
- Phong bì M2: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 31,4207 gam, loại: Methamphetamine.
- Phong bì M3: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 24,4727 gam, loại: Methamphetamine.
Kết luận giám định số: 3939/KLGĐ- PKT ngày 24/12/2018 của Phòng Kỹ thuật Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk kết luận:
- Khẩu súng ngắn ổ quay bằng kim loại, màu đen, cỡ nòng 06mm (lòng nòng trơn, không có rãnh xoắn), chiều cao 123mm, chiều dài 165mm, trọng lượng 600g. Trên thân súng bên trái có dập chìm ký hiệu “Cal 380 9mm k made in italy- MOD BRUNI NEW 380”; Trên thân súng bên phải có khắc số “2017 J004273”. Đây là khẩu súng ổ quay thuộc công cụ hỗ trợ, không phải là súng quân dụng. Tình trạng kỹ thuật khẩu súng tốt, còn sử dụng được.
- Khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen, cỡ nòng 06mm (lòng nòng trơn, không có rãnh xoắn), chiều cao 127mm, chiều dài 195mm, trọng lượng 800g. Trên thân súng bên trái có in ký hiệu “SALIENT ARMS INTERNATIONAL, CAL 6MM”; Trên thân súng bên phải có in ký hiệu “MADE IN TAIWAN 18420745”. Đây là khẩu súng ngắn bắn bi cỡ nòng 06mm (súng sử dụng khí gas tạo ra lực bắn), không phải vũ khí quân dụng. Tình trạng kỹ thuật khẩu súng còn sử dụng được.
- Khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, chiều cao 74mm, chiều dài 100mm, trọng lượng 265g, trên thân súng bên trái có ký hiệu “CAL.6mmSTART”, trên ốp tay cầm bên trái có in ký hiệu “Slavia MADE IN CZECHOSLOVAKIA”; Trên thân súng có dập chìm số 080990. Đây là khẩu súng bắn đạn nổ (loại đạn không có đầu đạn) thuộc công cụ hỗ trợ, không phải là súng quân dụng. Khẩu súng không có bộ phận nạp đạn nên không thể thực hiện phát bắn.
- 04 (bốn) viên đạn vỏ đồng, miệng vỏ đạn có đầu bịt màu trắng bằng cao su, đường kính vỏ đạn O09mm; chiều dài viên đạn 22mm; dưới đáy vỏ đạn có dập chìm ký hiệu 9mmPA. Đây là đạn cao su, sử dụng cho súng công cụ hỗ trợ, không phải đạn quân dụng. Tình trạng kỹ thuật đạn tốt, còn sử dụng được.
- 08 (tám) viên đạn vỏ đồng, đầu đạn bằng chì đường kính O5,7mm; vỏ đạn bằng đồng dài 15,5mm, có ký hiệu C dập chìm trên đáy vỏ đạn. Chiều dài viên đạn 25,4mm. Đây là đạn thể thao cỡ 5,7 x 15,5 mm, không phải đạn quân dụng. Tình trạng kỹ thuật đạn tốt, còn sử dụng được.
- 18 (mười tám) viên đạn chì hình nấm, có đường kính O5,5mm; chiều dài 8,2mm. Đây là đạn súng hơi cỡ 5,5mm, không phải đạn quân dụng. Tình trạng kỹ thuật đạn tốt, còn sử dụng được.
Tại bản cáo trạng số 165/CT-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và theo nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng số 165/CT-VKS ngày 17 tháng 12 năm 2018, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh H từ 13 năm đến 13 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 05/10/2018.
* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định có trong phong bì M1: 20,9077 gam Heroin; trong phong bì M2: 30,7332 gam Methamphetamine; trong phong bì M3: 23,8589 gam Methamphetamine được niêm phong trong ba gói số: 889/GĐMT - PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án;
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ những vật chứng sau gồm: 05 (năm) túi nylon và 05 (năm) ống hút bằng nhựa, màu trắng; 204 (hai trăm lẽ bốn) viên bi bằng kim loại, màu trắng, đường kính 03cm; 09 (chín) lọ bằng inox, màu trắng (trong đó, 07 lọ còn nắp bịt, 02 lọ không còn nắp bịt); 01 túi xách bằng vải, màu xám; 01 cân điện tử, màu đen, nhãn hiệu POCKET SCALE; 01 cân điện tử, màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) khẩu súng ngắn ổ quay bằng kim loại, màu đen, cỡ nòng 06mm (lòng nòng trơn, không có rãnh xoắn), chiều cao 123mm, chiều dài 165mm, trọng lượng 600g. Trên thân súng bên trái có dập chìm ký hiệu “Cal 380 9mm k made in italy- MOD BRUNI NEW 380”; Trên thân súng bên phải có khắc số “2017 J004273”; 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen, cỡ nòng 06mm (lòng nòng trơn, không có rãnh xoắn), chiều cao 127mm, chiều dài 195mm, trọng lượng 800g. Trên thân súng bên trái có in ký hiệu “SALIENT ARMS INTERNATIONAL, CAL 6MM”; Trên thân súng bên phải có in ký hiệu “MADE IN TAIWAN 18420745”; 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, chiều cao 74mm, chiều dài 100mm, trọng lượng 265g, trên thân súng bên trái có ký hiệu “CAL.6mmSTART”, trên ốp tay cầm bên trái có in ký hiệu “Slavia MADE IN CZECHOSLOVAKIA”; Trên thân súng có dập chìm số 080990; 04 (bốn) viên đạn vỏ đồng, miệng vỏ đạn có đầu bịt màu trắng bằng cao su, đường kính vỏ đạn O09mm; chiều dài viên đạn 22mm; dưới đáy vỏ đạn có dập chìm ký hiệu 9mmPA; 08 (tám) viên đạn vỏ đồng, đầu đạn bằng chì đường kính O5,7mm; vỏ đạn bằng đồng dài 15,5mm, có ký hiệu C dập chìm trên đáy vỏ đạn. Chiều dài viên đạn 25,4mm; 18 (mười tám) viên đạn chì hình nấm, có đường kính O5,5mm; chiều dài 8,2mm.
Bị cáo Lê Thanh H không có ý kiến tranh luận gì thêm chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/10/2018, tại khu vực nhà số: 183/22 L, phường T, thành phố B Lê Thanh H đã có hành vi tàng trữ 21,3816 gam Heroin và 55,8934 gam ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng của hai chất ma túy tàng trữ là 77,2750 gam với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà.
. Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, chứng minh đầy đủ các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, như vậy quyết định truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm tù.
h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, đồng thời còn gây mất ổn định trị an xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được rằng, ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt và sử dụng trái phép. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân dẫn đến làm lan truyền các căn bệnh xã hội, trong đó có đại dịch HIV/AIDS. Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt với hành vi phạm tội khác nhau, bị cáo đã không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng, rèn luyện bản thân thành công dân có ích cho xã hội, mà tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài, có như vậy mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Thanh H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
Đối với hành vi tàng trữ 03 khẩu súng của bị cáo. Quá trình giám định kết luận cả 03 khẩu súng này không phải là vũ khí quân dụng, đây là vũ khí công cụ hỗ trợ, đồ chơi nguy hiểm không có giấy phép, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo theo quyết định số 238/QĐ-XPVPHC ngày 09/5/2019 là đúng quy định của pháp luật.
Riêng đối với H’Đ Êban quá trình điều tra khai thời gian trước đây có thấy bị cáo bán ma túy cho một số đối tượng nghiện đến mua nhưng không xác định được lai lịch của những đối tượng này và bị cáo khai, ngoài hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo còn có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy trước đó, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng đến nay vẫn chưa chứng minh được hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của Lê Thanh H, nên Cơ quan điều tra tách ra khỏi vụ án để tiế p tụ c xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp;
Đối với các đối tượng tên T (là người bán ma túy cho H), Khánh (là người bán súng cho H), đến nay Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân lai lịch và làm việc được với những người này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi của những người này ra khỏi vụ án để tiế p tụ c xác minh làm rõ , xử lý sau là phù hợp;
Đối với bà Phạm Thị N là mẹ ruột và H’Đ Êban là vợ của Lê Thanh H cùng ở tại địa chỉ 183/22 L, phường T, thành phố B nhưng bà N và chị H’Đ Êban không biết việc bị cáo cất giấu trái phép chất ma túy tại nhà nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là phù hợp;
Đối với chủ nhà xe T là bà Nguyễn Thị Kim T (sinh năm: 1969, nơi cư trú: 14 Trần Hưng Đ, phường T, thành phố B), được bị can H đưa số điện thoại của đối tượng tên T và số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đem đến thành phố Hồ Chí Minh đưa cho T và sau đó vận chuyển số ma túy về cho H. Tuy nhiên bà T không biết và không còn lưu giữ giấy tờ liên quan nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
.Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo trong khi lượng hình, để giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định có trong phong bì M1: 20,9077 gam Heroin; trong phong bì M2: 30,7332 gam Methamphetamine; trong phong bì M3: 23,8589 gam Methamphetamine được niêm phong trong ba gói số: 889/GĐMT - PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án;
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ những vật chứng sau gồm: 05 (năm) túi nylon và 05 (năm) ống hút bằng nhựa, màu trắng; 204 (hai trăm lẽ bốn) viên bi bằng kim loại, màu trắng, đường kính 03cm; 09 (chín) lọ bằng inox, màu trắng (trong đó, 07 lọ còn nắp bịt, 02 lọ không còn nắp bịt); 01 túi xách bằng vải, màu xám; 01 cân điện tử, màu đen, nhãn hiệu POCKET SCALE; 01 cân điện tử, màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) khẩu súng ngắn ổ quay bằng kim loại, màu đen, cỡ nòng 06mm (lòng nòng trơn, không có rãnh xoắn), chiều cao 123mm, chiều dài 165mm, trọng lượng 600g. Trên thân súng bên trái có dập chìm ký hiệu “Cal 380 9mm k made in italy- MOD BRUNI NEW 380”; Trên thân súng bên phải có khắc số “2017 J004273”; 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen, cỡ nòng 06mm (lòng nòng trơn, không có rãnh xoắn), chiều cao 127mm, chiều dài 195mm, trọng lượng 800g. Trên thân súng bên trái có in ký hiệu “SALIENT ARMS INTERNATIONAL, CAL 6MM”; Trên thân súng bên phải có in ký hiệu “MADE IN TAIWAN 18420745”; 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, chiều cao 74mm, chiều dài 100mm, trọng lượng 265g, trên thân súng bên trái có ký hiệu “CAL.6mmSTART”, trên ốp tay cầm bên trái có in ký hiệu “Slavia MADE IN CZECHOSLOVAKIA”; Trên thân súng có dập chìm số 080990; 04 (bốn) viên đạn vỏ đồng, miệng vỏ đạn có đầu bịt màu trắng bằng cao su, đường kính vỏ đạn O09mm; chiều dài viên đạn 22mm; dưới đáy vỏ đạn có dập chìm ký hiệu 9mmPA; 08 (tám) viên đạn vỏ đồng, đầu đạn bằng chì đường kính O5,7mm; vỏ đạn bằng đồng dài 15,5mm, có ký hiệu C dập chìm trên đáy vỏ đạn. Chiều dài viên đạn 25,4mm; 18 (mười tám) viên đạn chì hình nấm, có đường kính O5,5mm; chiều dài 8,2mm.
Đối với căn nhà tại địa chỉ 183/22 L, phường T, thành phố B mà bị cáo sử dụng để tàng trữ ma túy, quá trình điều tra, xác minh căn nhà này thuộc quyền sở hữu của bà Phạm Thị N. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với căn nhà này.
. Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh H không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh H 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2018.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định có trong phong bì M1: 20,9077 gam Heroin; trong phong bì M2: 30,7332 gam Methamphetamine; trong phong bì M3: 23,8589 gam Methamphetamine được niêm phong trong ba gói số: 889/GĐMT - PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án;
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ những vật chứng sau gồm: 05 (năm) túi nylon và 05 (năm) ống hút bằng nhựa, màu trắng; 204 (hai trăm lẽ bốn) viên bi bằng kim loại, màu trắng, đường kính 03cm; 09 (chín) lọ bằng inox, màu trắng (trong đó, 07 lọ còn nắp bịt, 02 lọ không còn nắp bịt); 01 túi xách bằng vải, màu xám; 01 cân điện tử, màu đen, nhãn hiệu POCKET SCALE; 01 cân điện tử, màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) khẩu súng ngắn ổ quay bằng kim loại, màu đen, cỡ nòng 06mm (lòng nòng trơn, không có rãnh xoắn), chiều cao 123mm, chiều dài 165mm, trọng lượng 600g. Trên thân súng bên trái có dập chìm ký hiệu “Cal 380 9mm k made in italy- MOD BRUNI NEW 380”; Trên thân súng bên phải có khắc số “2017 J004273”; 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen, cỡ nòng 06mm (lòng nòng trơn, không có rãnh xoắn), chiều cao 127mm, chiều dài 195mm, trọng lượng 800g. Trên thân súng bên trái có in ký hiệu “SALIENT ARMS INTERNATIONAL, CAL 6MM”; Trên thân súng bên phải có in ký hiệu “MADE IN TAIWAN 18420745”; 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, chiều cao 74mm, chiều dài 100mm, trọng lượng 265g, trên thân súng bên trái có ký hiệu “CAL.6mmSTART”, trên ốp tay cầm bên trái có in ký hiệu “Slavia MADE IN CZECHOSLOVAKIA”; Trên thân súng có dập chìm số 080990; 04 (bốn) viên đạn vỏ đồng, miệng vỏ đạn có đầu bịt màu trắng bằng cao su, đường kính vỏ đạn O09mm; chiều dài viên đạn 22mm; dưới đáy vỏ đạn có dập chìm ký hiệu 9mmPA; 08 (tám) viên đạn vỏ đồng, đầu đạn bằng chì đường kính O5,7mm; vỏ đạn bằng đồng dài 15,5mm, có ký hiệu C dập chìm trên đáy vỏ đạn. Chiều dài viên đạn 25,4mm; 18 (mười tám) viên đạn chì hình nấm, có đường kính O5,5mm; chiều dài 8,2mm.
(Tang vật có đặc điểm như trong biên bản giao nhân vật chứng giữa Cơ quan Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 29/5/2019).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Thanh H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Chi cục THA DS Tp. Buôn Ma Thuột; - Chánh án TAND Tp. Buôn Ma Thuột; - Bị cáo; - ……………..; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa Y Kam Ênuôl |