vanban.org

Bản án 16 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị T được ly hôn.

[2] Về con chung: Anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị T không có con chung, nên không đặt ra giải quyết. [3] Về tài sản, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh N và chị T"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị T được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31- 3 - 2023
V/v ly hôn giữa anh N và chị T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Anh Dũng.

2. Ông Diêm Đăng Hoạt.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Vân, thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bộ, Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 334/2022/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXX-ST ngày 16 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tiếp theo tại Tòa án anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị T ngày 08/11/2018, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình anh, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.

Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh từ đầu tháng 02/2020, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm lối sống và trong làm ăn kinh tế, vợ chồng sống ly thân từ tháng 05/2020. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết cho anh và chị T được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T như: Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là chị Nguyễn Thị T. Chị T không đến Tòa án làm việc và không cung cấp lời khai thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Qua xác minh với bà Ngô Thị C là mẹ đẻ chị Nguyễn Thị T, bà C trình bày: Bà là mẹ đẻ chị Nguyễn Thị T, năm 2019 chị T kết hôn với anh Nguyễn Văn N, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, sau ngày cưới chị về gia đình anh N sinh sống. Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung, năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị T về gia đình bà và đi làm công nhân. Bà là người nhận Thông báo thụ lý vụ án, thông báo công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải cho chị T, bà đã giao trực tiếp cho chị T, tuy nhiên chị T không đến Tòa án làm việc. Do vợ chồng không có con chung, tài sản chung nên chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà anh Nguyễn Văn N vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Nguyễn Thị T được ly hôn. Về con chung, tài sản và công nợ chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn anh Nguyễn Văn N thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định; bị đơn chị Nguyễn Thị T không chấp hành theo đúng quy dịnh pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị T được ly hôn.

Về con chung, tài sản, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành giao giấy triệu tập phiên tòa và quyết định xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn chị Nguyễn Thị T, nhưng chị T vẫn vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn anh Nguyễn Văn N và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì có cơ sở xác định như sau:

Anh Nguyễn Văn N kết hôn chị Nguyễn Thị T ngày 08/11/2018 trên cơ sở hai bên được tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận, vợ chồng tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình anh N, tình cảm ban đầu hòa thuận, hạnh phúc do vậy cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Nay anh N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung và tài sản, công nợ chung; Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình là đúng quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh đầu tháng 02/2020, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình và sống ly thân từ tháng 05/2020, chị T đã về bên ngoại sinh sống. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không thể hàn gắn được, không còn khả năng đoàn tụ, do vậy anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị T được ly hôn.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị T đã xảy ra căng thẳng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân một thời gian, không còn quan tâm đến nhau, không có quan hệ tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh N xin ly hôn, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh N, xử cho anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị T được ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung, tài sản, công nợ chung: Anh N xác định vợ chồng không có con chung, tài sản chung, không liên quan vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị T được ly hôn.

[2] Về con chung: Anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thị T không có con chung, nên không đặt ra giải quyết.

[3] Về tài sản, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh N đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí; lệ phí Tòa án số: 0011962 ngày 24/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Khoản tiền này được chuyển thành án phí.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ