- Tranh chấp gì? "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: /2024/HS-ST Ngày: 19 – 01 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khanh
Bà Lê Kim Phương
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Tuấn Duy – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân quận Long Biên và Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 03/01/2024 đối với bị cáo:
TRẦN XUÂN T – sinh năm: 1976; HKTT và chỗ ở: thôn L, thị trấn L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; con ông Trần Xuân T và bà Nguyễn Thị Thanh N (Đã chết); Vợ: Khúc Thị Tg; Có 02 con: lớn SN 2001, nhỏ SN 2007; TATS: Theo danh chỉ bản số 684 ngày 19/10/2023 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Nhân thân:
- Ngày 07/08/1997, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số 595 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong trong thời hạn 24 tháng.
- Ngày 11/03/2002, Công an thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số 16 xử phạt hành chính (cảnh cáo) về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 11/10/2023. Tạm giam từ ngày 20/10/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Đình Q - sinh năm: 1974
HKTT: phường T, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 11/10/2023, tổ công tác Công an phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ 2 Đặng Vũ Hỷ thuộc phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn đang ngồi trên xe máy nên tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi vải treo ở bên phải yếm xe của người đàn ông đang ngồi có 01 bao thuốc lá bên trong có 02 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, đối tượng khai nhận tên là Trần Xuân T (sinh năm: 1976; hộ khẩu thường trú: thôn L, thị L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) và 02 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy heroine T mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở làm việc.
Tang vật thu giữ gồm:
- 02 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng
- 01 xe máy Honda Future mang biển kiểm soát 29C1-283.06.
Quá trình kiểm tra, tạm giữ Trần Xuân T có anh Nguyễn Văn T (sinh năm: 1970, hộ khẩu thường trú: Tổ 12 phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội) là người chứng kiến.
Tại Kết luận giám định số 6880/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,203 gam.
Tại cơ quan công an; Trần Xuân T khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 11/10/2023, do bản thân nghiện ma túy và có nhu cầu sử dụng nên sau khi đi giao hàng lá dong ở Yên Viên thì T điều khiển xe máy Honda Future mang biển kiểm soát 29C1-283.06 đến khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp một nam thanh niên đứng ở ven đường nên hỏi mua ma túy và đưa cho người này 170.000 đồng, Sau đó T cùng nam thanh niên này đi về khu vực đường tàu gần Cầu Đuống, nam thanh niên xuống xe để cho T chờ một lúc rồi quay lại và đưa cho T 02 gói ma túy heroin được để trong báo thuốc lá Thăng Long. Sau khi nam thanh niên bỏ đi, T cất bao thuốc lá có 02 gói ma túy heroin vào trong túi vải treo ở bên phải yếm xe máy mình đang đi để cất giấu. Khi T đang ngồi trên xe máy thì bị lực lượng công an đến yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, cơ quan công an phát hiện 02 gói giấy bạc bên trong chứa ma túy heroin được cất trong bao thuốc lá Thăng Long mà T vừa mua để trong túi vải treo ở yếm phải của xe máy. Tại chỗ, T khai nhận là ma túy heroin vừa mua về để sử dụng. Cơ quan công an đã lập biên bản thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở làm rõ.
Cáo trạng số: 07/CT-VKSLB ngày 03/01/2024 của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Trần Xuân T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trần Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 17 đến 20 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 0,203 gam Heroine (PC09 đã thu mẫu 0.031 gam còn lại 0.172 gam).
- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future mang biển kiểm soát 29C1-283.06 tạm giữ của Trần Xuân T: quá trình điều tra xác định chủ đăng ký xe là chị Nghiêm Thúy Oanh (sinh năm: 1971, hộ khẩu thường trú: số 6A Đào Duy Từ, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội). Đến cuối năm 2017, chị Oanh đã bán lại chiếc xe cho một người không quen biết. Khoảng tháng 04/2018, anh rể của T là anh Nguyễn Đình Q (sinh năm: 1974; hộ khẩu thường trú: phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội) mua lại chiếc xe nêu trên từ một người không quen biết. Ngày 08/10/2023, T mượn anh Q chiếc xe trên để đi có việc. Việc T sử dụng chiếc xe để đi đâu, làm gì thì anh Q hoàn toàn không biết. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe máy nêu trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Xác định chủ sở hữu hợp pháp hiện nay của chiếc xe máy là anh Nguyễn Đình Q; Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã trả lại chiếc xe máy nêu trên cho anh Q. Anh Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật-tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 50 phút ngày 11/10/2023, tại khu vực ngõ 2 Đặng Vũ Hỷ thuộc phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Trần Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 0,203 gam ma túy Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo Trần Xuân T đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy được Bộ luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng TNHS:
Nhân thân bị cáo có 02 tiền sự Ngày 07/08/1997, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số 595 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong trong thời hạn 24 tháng. Ngày 11/03/2002, Công an thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số 16 xử phạt hành chính (cảnh cáo) về hành vi đánh bạc. Theo luật định 02 tiền sự của bị cáo đã hết thời hiệu. Vì vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.
Trong khi Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đấu tranh để loại trừ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo xét về tính chất, mức độ và nhân thân bị cáo thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
- Về xử lý vật chứng:
- Cho tịch thu, tiêu hủy 0,203 gam Heroine (PC09 đã thu mẫu 0.031 gam còn lại 0.172 gam) là vật Nhà nước cấm lưu hành.
Đại diện VKSND quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.
- Về vấn đề khác:
- Đối với đối tượng bán ma túy cho T tại khu vực Từ Sơn, Bắc Ninh; do T khai không biết là ai, tên tuổi địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future mang biển kiểm soát 29C1-283.06 tạm giữ của Trần Xuân T, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã trả lại chiếc xe máy nêu trên cho anh Q. Anh Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: bị cáo Trần Xuân T 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Cho tịch thu, tiêu hủy 0,203 gam Heroine (PC09 đã thu mẫu 0.031 gam còn lại 0.172 gam).
(Hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/01/2024).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.
| Nơi nhận - TANDTP.Hà Nội; - VKSNDTP.Hà Nội; - Sở Tư pháp TP.Hà Nội; - VKSND quận Long Biên; - Công an quận Long Biên; - Chi cục THA. DS quận Long Biên; - Cơ quan THA.HS quận Long Biên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP/TA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Nam |