vanban.org

Bản án 16

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc H phạm tội: “Bắt giữ người trái pháp luật”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đặng Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đặng Ngọc H phạm tội Bắt giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc H phạm tội: “Bắt giữ người trái pháp luật”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và Nghị; Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị; Điều 157 Bộ luật hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/H4 S-ST
Ngày: 24 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Thủy Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Huyền

Ông Lê Xuân Thanh

- Thư ký phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Hoan

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17 /2023/HSST ngày 24/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15 /2023/QĐXXST - HS ngày 10/4/2023 đối với bị cáo:

Đặng Ngọc H - sinh ngày 02/01/1986. Nơi cư trú: xã N, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc Xuân và bà Trần Thị Oanh; vợ Nguyễn Thị Hiền và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Anh Nguyễn Văn T - sinh ngày 20/4/2005 (có mặt)

Địa chỉ: xã Đ, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

- Chị Đỗ Thị T

- sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: xã Đhuyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đặng Ngọc C

- sinh ngày 07/7/2007 (có mặt)

Người đại diện hợp pháp cho anh C: Chị Nguyễn Thị H (có mặt)

Cùng địa chỉ: xã N, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Lê Văn K

- sinh ngày 08/3/2009 (có mặt)

Người đại diện hợp pháp cho anh K: Chị Phạm Thị S (có mặt)

Cùng địa chỉ: thị trấn P, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Vũ Huy Đ

- sinh ngày 21/5/2006 (có mặt)

Người đại diện hợp pháp cho anh Đ: Ông Vũ Huy T (có mặt)

Cùng địa chỉ: thị trấn P, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Hồng S

- sinh năm 2006 (vắng mặt) Địa chỉ: xã N, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Mai Huy B

- sinh năm 2007 (vắng mặt) Địa chỉ: thị trấn P, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Đặng Ngọc T

- sinh năm 2007 (vắng mặt)

Địa chỉ: xã N, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Trần Ngọc C

- sinh năm 2006 (có mặt)

Địa chỉ: xã Đ, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Hà Văn B

- sinh năm 1997 (vắng mặt) Địa chỉ: xã S, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Ông Nguyễn Thanh C

- sinh năm 1957 (vắng mặt) Địa chỉ: xã M, TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mâu thuẫn trong lúc đi học, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, tại tổ dân phố Tân Tú, thị trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương, Lê Văn K (sinh năm 2009 ở thị trấn P, huyện Quảng Xương) sử dụng gậy cùng Nguyễn Văn T (sinh ngày 20/4/2005, ở xã Đ, huyện Quảng Xương) và Vũ Huy Đ (sinh năm 2006, ở thị trấn P, huyện Quảng Xương) dùng tay đánh Đặng Ngọc C (sinh năm 2007 ở xã N, huyện Quảng Xương). Sau khi bị đánh, C vẫn tiếp tục vào học, đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày do đau đầu nên C được Mai Huy B (sinh năm 2007 ở thị trấn P, huyện Quảng Xương ), Nguyễn Hồng S (sinh năm 2006, ở xã N, huyện Quảng Xương) cùng một số bạn học đưa về nhà rồi C vào giường nằm. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày bố đẻ C là Đặng Ngọc H và Hà Văn B (sinh năm 1997 ở xã S, huyện Quan Hoá) sau khi làm hàng rào sắt ngoài vườn vào nhà ăn cơm và thấy C đang nằm trên giường thì H hỏi S “Thằng C bị sao thế”; S trả lời “C bị T và hai bạn khác dùng gậy 3 khúc đánh”; H hỏi tiếp “cháu biết nhà thằng đánh C không dẫn chú lên đó tìm nó hỏi cho rõ sự việc” thì S đồng ý. Sau đó S ra lấy xe máy cùng Mai Huy B (sinh năm 2007 ở thị trấn P, huyện Quảng Xương), Đặng Ngọc T (sinh năm 2007 ở xã N, huyện Quảng Xương) cùng một số cháu học sinh đang có mặt tại nhà H dẫn H đi. Khi H lấy xe mô tô chuẩn bị đi thì B nói “Cho em đi với lát anh cho em về luôn”, H đồng ý và điều khiển xe mô tô chở B phía sau (B đang ở nhà anh rể là Đới Sỹ Đ - sinh năm 1989 ở xã H, huyện Quảng Xương). Khi đến cổng nhà T thấy cửa cổng đóng không có ai ở nhà nên S gọi điện cho T về. Do do lúc này T đang đi chơi với Đ và Trần Ngọc C (sinh năm 2006 ở xã Đ, huyện Quảng Xương) nên cả 3 cùng đi về nhà T. Khi về đến cổng, H đi lại hỏi C “Sáng nay mày đánh con tao à”, C nói “Không”. H quay sang hỏi T “Mày đánh con tao à”, T trả lời “Vâng” thì H xông lại dùng tay trái vòng qua cổ T ghì xuống và dùng tay phải vả vào vùng đầu T nhiều cái rồi nói với T “Mày lên xe đi với tao”, T không đồng ý và nói “Cháu không đi đâu cả”. H tiếp tục dùng tay trái vòng qua cổ T đồng thời lôi T lên yên xe mô tô của H, rồi lên xe điều khiển. Lúc này do không có xe để về nên B cũng lên xe H ngồi phía sau T mục đích để H chở về nhà anh Đ. Trên đường đi H bảo T gọi điện cho K và Đ nhưng T không gọi nên H dùng cùi chỏ tay trái thúc T thì T dùng tay chặn lại. Trên đường đi B nói với H “Anh cho em về nhà anh Đ với” thì H trả lời “Lát anh đưa về” rồi H nói với T “Tao không đưa mi về nhà tao mà đi về nhà ông bà ngoại thằng C” rồi H chở T đến nhà ông Nguyễn Thanh C (sinh năm 1957 ở xã M, thành phố Sầm Sơn - bố vợ H). S và các bạn cũng đi theo phía sau H để xem. Khi đến sân nhà ông C lúc này gia đình ông C đều đi vắng, H xuống xe và yêu cầu T ngồi xuống ghế gỗ kê ở sân, vì sợ nên T nghe theo lời H, còn H đi lại ngồi bên trái T và dùng tay phải túm lấy tai trái T rồi hỏi “mày đánh con tao mấy cái” T nói “một cái” H dùng tay trái tát vào mặt T nhiều cái, cùng lúc này ông C đi về thấy liền lại can ngăn H thì H nói “Thằng này lúc sáng đánh thằng C” và dùng cùi chỏ tay trái thúc vào đầu T rồi yêu cầu T lấy điện thoại gọi cho Đ và K đến nhưng T không gọi được nên H yêu cầu T lưu số điện thoại của H sau đó tát vào mặt T 1 cái nữa. Cùng lúc này, B đi lại lấy chìa khoá xe mô tô để ở bàn uống nước cầm ở lòng bàn tay phải để thò phần đầu chìa khoá ra ngoài và đấm vào bụng T 1 cái. Sau đó H nhờ Sơn cùng bạn S đưa T về.

- Đặng Ngọc C bị các vết thương sau: 01 vết bầm tím tại vùng vai bên trái, kích thước khoảng (1,5x2)cm.

- Nguyễn Văn T bị các vết thương sau: 01 vết sưng, bầm tím tại vùng gò má phải, mắt phải, kích thước khoảng (2,5x5)cm; 01 vết sưng, bầm tím vùng dưới mi mắt trái, kích thước khoảng (1x1)cm; 01 vết xước da vùng bụng bên phải, kích thước khoảng (0,5x2,5)cm; 01 vết bầm đỏ vùng đầu phía sau tai phải, kích thước khoảng (1x2)cm.

Tại Bản kết luận giám định số 1328/2022/TTPY ngày 01 tháng 12 năm 2022, của Trung tâm pháp y Thanh Hóa, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Đặng Ngọc C được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Cộng theo phương pháp xác định tỷ lệ % TTCT theo quy định tại Điều 4- Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y tế) là 0% (Không phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định số 1336/2022/TTPY ngày 02 tháng 12 năm 2022, của Trung tâm pháp y Thanh Hóa, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Văn T được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Cộng theo phương pháp xác định tỷ lệ % TTCT theo quy định tại Điều 4 - Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y tế) là 01% (Một phần trăm).

Đối với hành vi của Lê Văn K, Nguyễn Văn T, Vũ Huy Đ dùng gậy, tay, chân đánh gây thương tích, tổn hại 0% sức khoẻ cho Đặng Ngọc C; hành vi của Mai Huy B dùng chìa khoá đánh gây thương tích, tổn hại 01% sức khoẻ cho Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra C và T đều có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với thương tích của mình. Vì vậy, hành vi của K, T, Đ, B không cấu thành tội phạm. Công an huyện Quảng Xương đã ra quyết định xử lý hành chính đối với K, T, Đ, B là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã trích xuất và thu thập vi deo của gia đình bà Vũ Thị T (sinh năm 1992 ở xã Đ, huyện Quảng Xương), vi deo của gia đình ông Phạm Xuân T (sinh năm 1984 ở xã Đ, huyện Quảng Xương) và vi deo của điểm tư vấn quỹ tín dụng nhân dân thuộc tổ dân phố Dục Tú, Thị Trấn Tân Phong, huyện Quảng Xương của ông Đặng Văn S (sinh năm 1975 ở xã T, huyện Quảng Xương). Tất cả dữ liệu được ghi lưu vào 03 đĩa DVD và niêm phong theo quy định.

Tại Bản Kết luận giám định số 960/KL-KTHS ngày 02/03/2023, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận video chứa trong 03 đĩa DVD không bị chỉnh sửa, cắt ghép. Nội dung video do bà T, ông T giao nộp ghi nhận hình ảnh một số người điều khiển xe mô tô dừng đỗ cạnh lề đường sau đó 02 người di chuyển bằng xe mô tô từ trong ngõ ra ngoài đường; Nội dung video do ông Sinh giao nộp ghi nhận 03 đối tượng dùng tay, vật dạng que bằng kim loại đánh vào người của 01 đối tượng.

Tại bản cáo trạng số 21/CT - VKSQX ngày 23/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố bị cáo Đặng Ngọc H về tội: “Bắt giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 của BLHS.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo Đặng Ngọc H đã tự nguyện bồi thường, bồi dưỡng cho bị hại số tiền là 2.000.000đ và bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Mặc dù bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và gia đình không yêu cầu bị cáo Đặng Ngọc H phải bồi thường cho bị hại khoản gì, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền là 2.000.000đ để khắc phục hậu quả, bản thân bị hại cũng có lỗi là trước đó đã đánh con trai của bị cáo nên dẫn đến việc bị cáo mới có hành vi bắt giữ và đánh bị hại. Nay cả bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; xử phạt bị cáo Đặng Ngọc H từ 27 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo Đặng Ngọc H phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở chứng minh: Do trước đó Nguyễn Văn T - sinh ngày 20/4/2005 (là người dưới 18 tuổi) có hành vi đánh Đặng Ngọc C - sinh ngày 07/7/2007 là con trai của Đặng Ngọc H; nên vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/11/2022 tại trước ngõ nhà Nguyễn Văn T ở xã Đ, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; Đặng Ngọc H đã có hành vi dùng tay trái vòng qua cổ Nguyễn Văn T ép và lôi T lên xe mô tô Wave RSX nhãn hiệu Honda BKS: 36B2 - 033.46 rồi điều khiển xe chở T đến giữ tại nhà ông Nguyễn Thanh C ở xã M, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Bắt giữ người trái pháp luật”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 của BLHS. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố bị cáo Đặng Ngọc H về tội: “Bắt giữ người trái pháp luật” theo điểm e khoản 2 Điều 157 của BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền tự do của cháu Nguyễn Văn T và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, do đó phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự.

Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân: Xét thấy trước lần phạm tội này, bị cáo chưa có vi phạm pháp luật gì, lần phạm tội này là lần đầu.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Xét thấy mặc dù cả bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại khoản gì, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền là 2.000.000đ để khắc phục hậu quả. Bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương, bản thân bị hại cũng có lỗi là trước đó đã đánh con trai của bị cáo nên dẫn đến việc bị cáo mới có hành vi bắt giữ và đánh bị hại; bị cáo cũng đã từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, phục vụ trong quân đội. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về đường lối xử lý hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo được nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi môi trường ngoài xã hội mà chỉ cần dưới sự quản lý, giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Do đó áp dụng Điều 65 BLHS 2015 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cho bị cáo hưởng án treo, là phù hợp với quy định của pháp luật và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của người phạm tội lần đầu và biết ăn năn hối cải.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại không có yêu cầu bồi thường, đề nghị gì khác về dân sự nên không xem xét.

Đối với hành vi của Lê Văn K, Nguyễn Văn T, Vũ Huy Đ dùng gậy, tay, chân đánh gây thương tích, tổn hại 0% sức khoẻ cho Đặng Ngọc Chiến; hành vi của Mai Huy B dùng chìa khoá đánh gây thương tích, tổn hại 01% sức khoẻ cho Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra C và T đều có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với thương tích của mình. Vì vậy, hành vi của K, T, Đ, B không cấu thành tội phạm. Công an huyện Quảng Xương đã ra quyết định xử lý hành chính đối với K, T, Đ, B là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I Danh mục án phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Ngọc H phạm tội: “Bắt giữ người trái pháp luật”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Ngọc H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đặng Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại không có yêu cầu bồi thường, đề nghị gì khác về dân sự nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Đặng Ngọc H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ