- Tranh chấp gì? "Vụ án Đỗ Văn H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 16a/2023/HS -ST Ngµy: 22-3-2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Biên và ông Hoàng Đình Cường.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thư - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 3 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2023/TLST-HS ngày 15/02/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Văn H, sinh ngày: 10/10/1981; tại xã H, huyện H, tỉnh T; trú tại: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N và bà Trương Thị L; có vợ là Trần Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 2129/HSPT ngày 26/10/2000 bị cáo bị Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách ba năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.
Tạm giữ, tạm giam: không.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Bà Lê Thị H; sinh năm: 1971 (đã chết).
Đại diện bị hại: Anh Nguyễn Văn Th; sinh năm: 1994; nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện T, tỉnh T, vắng mặt.
Người làm chứng: - Anh Tống Xuân Q; sinh năm: 1977; nơi cư trú: thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn V; sinh năm: 1985; nơi cư trú: thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H; sinh năm: 1976; nơi cư trú: thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh T, vắng mặt.
- Chị Lê Thị L; sinh năm: 1972; nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện T, tỉnh T, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H; sinh năm: 1974; nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện T, tỉnh T, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị K; sinh năm: 1972; nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện T, tỉnh T, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ, ngày 08/10/2022 Đỗ Văn H, sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh T không có giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, điều khiển xe máy nông nghiệp có gắn thùng chở hàng phía sau (loại máy kéo nông ngiệp) đi từ nhà tại thôn Đ, xã H sang thôn Yến Vỹ, xã Hà Long, huyện Hà Trung để chở mía cho gia đình anh Tống Xuân Q, trú tại thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh T. Khi H điều khiển xe đến nơi thì vườn mía đã được chặt xong, có khoảng 10 người công nhân bốc xếp mía lên thùng xe máy kéo của H, H không dùng dây để cố định số mía đã được chất đầy thùng mà điều khiển xe ra đường liên thôn Yến Vỹ để về Thạch Thành giao mía cho khách, H điều khiển xe xuống đường phía bên phải hướng đi của mình. Lúc này, bà Lê Thị H, sinh năm 1971, trú tại xã T, huyện T là công nhân bốc mía đang rửa tay chân dưới mương nước, nghe mọi người hô la nên bà H chạy bộ dọc mương nước (ngược chiều xe chạy), sát đường liên thôn Yến Vỹ. Do trời mưa, đường trơn và vướng ổ gà trên đường nên chiếc xe máy kéo đổ nghiêng về bên phải, toàn bộ số mía trên thùng xe đổ xuống đường, mương nước, ruộng lúa bên cạnh, bà H bị số mía đè xuống mương nước dẫn đến tử vong.
Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường thuộc thôn Yến Vỹ, xã Hà Long, huyện Hà Trung, mặt đường bê tông rộng 3m, hướng QL217B đi đồi mía thôn Yến Vỹ có lề đường đất rộng 1,3m, có cống nước rộng 0,97m.
Lấy tâm đường vào nhà hộ dân ông Nguyễn Văn T, trú tại thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh T làm điểm mốc, lấy mép đường bên phải chiều đi thôn Yến Vỹ, xã Hà Long, huyện Hà Trung làm mép chuẩn. Xác định 03 dấu vết:
Vết 1 là vị trí là vị trí nạn nhân được xác định tại hiện trường cách mép chuẩn là 3,87m.
Vết 2 là vị trí bó mía rơi xuống có kích thước 11,70m x 15,50m. Tâm vết 2 cách đầu vết 1 là 2,6m.
Vết 3 là máy kéo, tâm lốp trên bên phải và tâm lốp sau cùng bên trái phải nằm ngay trên mép chuẩn. Tâm lốp sau bên phải của máy kéo cách tâm vết 2 là 13m, cách điểm mốc là 9,5m.
* Khám nghiệm phương tiện
Tại bản kết luận số 3815/KLKTHS ngày 04/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe máy cày có gắn thêm thùng chở hàng phía sau (loại tự chế) với phương tiện khác.
- Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe máy cày có gắn thêm thùng chở hàng phía sau (loại tự chế) với bà Lê Thị H.
* Giám định pháp y về tử thi:
Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 40109/GĐPY-PC09 ngày 15/11/2022 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: nguyên nhân chết của bà Lê Thị H là do ngạt nước.
- Tại bản Kết luận giám định mô bệnh học số 3912/GĐMBH-PC09 ngày 09/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá về não, tim, phổi, gan, dạ dày của bà Lê Thị H kết luận: Hình ảnh phổi tổn thương ngạt nước, các tạng sung huyết.
Về kết quả kiểm tra nồng độ cồn và ma túy đối với Đỗ Văn H: Tại Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 289/2022/TTPY-HP ngày 30/10/2022 kết luận: Mẫu máu của Đỗ Văn H do cơ quan trưng cầu giám định pháp y về hóa pháp: không có cồn Ethanol, Methanol; không phát hiện thấy các chất ma túy kể trên.
Cáo trạng số 21/CT-VKSHT ngày 14/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong nên miễn xét; buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông và bản kết luận giám định, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 08/10/2022, tại đường liên thôn Yến Vỹ, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Đỗ Văn H không có giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, điều khiển xe máy nông nghiệp có gắn thùng chở hàng phía sau không chằng buộc chắc chắn, không đảm bảo an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông, không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật nên gây lật xe đè lên người bà Lê Thị H, hậu quả làm bà H tử vong tại chỗ. Hành vi của Đỗ Văn H đã vi phạm khoản 4, khoản 9 Điều 8; khoản 1,2,3 Điều 57; Điều 58 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy tắc an toàn giao thông đường bộ được pháp luật hình sự bảo vệ. Hậu quả của hành vi mà bị cáo gây ra dẫn đến cái chết cho bà H. Trong vụ án này, nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của bị cáo, điều khiển xe máy nông nghiệp nhưng không có giấy phép lái xe, xe không đảm bảo an toàn, kỹ thuật cho người và phương tiện khác dẫn đến hậu quả xảy ra. Bị cáo còn là đối tượng đã bị kết án, ngày 26/10/2000 bị cáo bị Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách ba năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải nên đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo thỏa thuận cho đại diện hợp pháp của bị hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông nội bị cáo là Đỗ T được tặng bằng khen của thủ tướng chính phủ trong việc đóng góp công sức cho cuộc kháng chiến của dân tộc, thuộc trường hợp gia đình có công với cách mạng; quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo được Ủy ban nhân dân xã H tặng giấy khen trong phong trào xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, đây được coi là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Mặc dù bị cáo đã từng bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích”, tuy nhiên tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, từ đó đến nay bị cáo không những không vi phạm pháp luật mà còn có nhiều đóng góp cho địa phương. Lần phạm tội này của bị cáo do lỗi vô ý và đã thật sự ăn năn hối cải khi tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, nên không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách trong một thời gian cũng đủ khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
. Về bồi thường: Bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại tổng số tiền là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 13/3/2023 anh Nguyễn Văn Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, nên miễn xét.
. Về vật chứng: chiếc xe máy nông nghiệp (máy kéo) đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
1. Về tội danh: Bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đỗ Văn H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đỗ Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hà Trung; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện Hà Trung; - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trịnh Thanh Hƣơng |