vanban.org

Bản án 16/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N, sinh ngày 28/05/1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã C, tỉnh An Giang;

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày đưa Trần Văn N vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời hạn kiến nghị của Công an xã C và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-An Giang là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Văn N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N, sinh ngày 28/05/1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã C, tỉnh An Giang;
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11-AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/QĐ-TAAn Giang, ngày 14 tháng 05 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh H.

2. Thư ký phiên họp: Bà Võ Thị Thảo.

Ngày 14 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11-An Giang, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 107/QĐ-TA ngày 28 tháng 4 năm 2026 đối với:

Trần Văn N, sinh ngày 28/05/1982, số căn cước công dân 089082028120; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: ấp T, xã C, tỉnh An Giang;

Nghề nghiệp: không;

Dân tộc: kinh;

Tôn giáo: Công giáo;

Trình độ văn hóa: 1/12;

Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã C, tỉnh An Giang;

Tiền án: không;

Tiền sự: không.

Con ông Trần Văn S và bà Trần Thị Hồng H1.

Vắng mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phùng Thanh T - Trưởng Công an xã C, tỉnh An Giang. Người đại diện hợp pháp ông Lê Thanh T1 – Cán bộ Công an xã C (Văn bản ủy quyền ngày 12/05/2026); có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-An Giang tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên; có mặt.

NHẬN THẤY:

Ngày 29/8/2025, Công an xã C kiểm tra phát hiện Trần Văn N dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Qua làm việc, N thừa nhận vừa sử dụng ma túy vào ngày 26/8/2025, tại ấp T, xã C, tỉnh An Giang. Ngày 03/9/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C ra Quyết định số 3434/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 19/3/2026, Trần Văn N tiếp tục bị phát hiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, được cơ quan chức năng có thẩm quyền xác định Trần Văn N là người nghiện ma túy. Trần Văn N không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Hành vi của Trần Văn N đã vi phạm tại khoản 1, điều 32, Luật Phòng, chống ma túy; (khoản 1, Điều 103, Luật xử lý vi phạm hành chính, sửa đổi bổ sung năm 2020).

Căn cứ hành vi vi phạm của Trần Văn N, Công an xã C đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 11 - An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N theo quy định.

Tại phiên họp:

- Ý kiến của đại diện Công an xã C: Giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N với thời gian tập trung cai nghiện theo quy định pháp luật.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: Thẩm quyền xem xét, thời hiệu, điều kiện áp dụng, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện phù hợp với quy định pháp luật. Nhận thấy, Trần Văn N là người đã trưởng thành, không đồng ý đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, Trưởng Công an xã C đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ, để Trần Văn N có điều kiện được chữa bệnh, lao động và học tập trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội. Bản thân Trần Văn N có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản”. Tuy nhiên, trong quá trình lập hồ sơ, Trần Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức phù hợp đối với Trần Văn N và phòng ngừa chung trong xã hội.

Từ những phân tích trên, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 11-An Giang căn cứ các Điều 9, Điều 10, Điều 95, Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N với thời hạn từ 18 tháng đến 20 tháng.

XÉT THẤY:

* Về tố tụng:

Hồ sơ đề nghị của Công an xã C đúng quy định tại Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

* Về nội dung:

Tại bản tường trình ngày 19/03/2026, người bị đề nghị thừa nhận, trước đó ngày 16/03/2026 Trần Văn N có sử dụng ma túy. Đến ngày 31/03/2026, Trần Văn N bị Công an xã C phát hiện, đưa đi xét nghiệm với kết quả dương tính với chất ma túy.

Lời khai nhận của Trần Văn N phù hợp với kết quả xét nghiệm của cơ quan chuyên môn, biên bản vi phạm hành chính số 12/BB-VPHC ngày 31/03/2026 do Công an xã C lập và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đề nghị.

Bên cạnh đó, ngày 03/09/2025, Trần Văn N bị Ủy ban nhân dân xã C quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 01 năm kể từ ngày 03/09/2025 đến ngày 03/09/2026.

Xét Trần Văn N đã thành niên, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Vì vậy, việc Trưởng Công an xã C đề nghị đưa Trần Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ, Trần Văn N có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về tình tiết tăng nặng: không.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020; các Điều 23, 24, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn N, sinh ngày 28/05/1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã C, tỉnh An Giang;

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày đưa Trần Văn N vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Thời hạn kiến nghị của Công an xã C và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-An Giang là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn khiếu nại của Trần Văn N là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã C đưa Trần Văn N vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

Cỡ chữ