- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quốc - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Vương Duy Q phạm tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16/2026/HSST Ngày 23/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG
Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Phúc
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Bút
- Bà Phan Thị Tuyền
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Lê Mai Ly - Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Đỗ Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 23/01/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng. Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 98/2025/HSST ngày 26/12/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vương Duy Q– Sinh ngày: 16/10/1990 tại Đà Nẵng. Nơi thường trú: Tổ 42, phường Hải Vân, thành phố Đà Nẵng. Số CCCD: 048090007398 cấp ngày 04/12/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo. Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Con ông Vương Kiệm (Còn sống) và bà Bùi Thị Tám (Còn sống). Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 31/01/2024, bị TAND quận Liên Chiểu cũ (nay là TAND khu vực 4 – Đà Nẵng) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt 12 tháng theo Quyết định số: 23/QĐ – TA. Đến ngày 28/11/2024 thì chấp hành xong theo GCN số: 397/CN – CSXHBB của cơ sở xã hội Bầu Bàng. Hiện tại đang trong thời gian chấp hành biện pháp Quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số: 15/QĐ – UBND ngày 29/11/2024 của UBND phường Hoà Hiệp Nam (nay là UBND phường Hải Vân), TP. Đà Nẵng.
Nhân thân: Ngày 25/12/2020, bị TAND quận Liên Chiểu cũ (nay là TAND khu vực 4 – Đà Nẵng) xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số: 105/2020/HS – ST.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/10/2025 (hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Hòa Khánh, Công an thành phố Đà Nẵng). Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/9/2025, tại khu vực bờ kè đường Nguyễn Tất Thành, thuộc địa phận phường Hải Vân, TP. Đà Nẵng, Vương Duy Q đã mua 300.000 nghìn đồng ma tuý đá và mượn thêm bộ dụng dụng cụ sử dụng ma tuý của một đối tượng tên Hùng (không rõ nhân thân, lai lịch) sau đó mang về nhà riêng tại tổ 42, phường Hải Vân, TP. Đà Nẵng để sử dụng, sau khi sử dụng xong Q đã vứt bỏ bộ dụng cụ vào một thùng rác gần nhà. Đến sáng ngày 30/9/2025, lực lượng Công an phường Hải Vân triệu tập Vương Duy Q lên trụ sở để tiến hành thử test ma tuý, kết quả Quốc dương tính với ma tuý đá.
Tang vật thu giữ: 01 chai nhựa dung tích 500ml được niêm phong bởi 01 tờ giấy màu trắng quấn trên miệng chai, ký hiệu mẫu A.
Tại bản kết luận giám định số: 1029/KL – KTHS ngày 08/10/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự CATP. Đà Nẵng, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Vương Duy Quốc ký hiệu A gửi giám định.
Ngoài ra, vào ngày 31/01/2024 Vương Duy Q bị TAND quận Liên Chiểu cũ (nay là TAND khu vực 4 – Đà Nẵng) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt 12 tháng theo Quyết định số 23/QĐ – TA. Đến ngày 28/11/2024 thì chấp hành xong theo GCN số 397/CN – CSXHBB của cơ sở xã hội Bầu Bàng. Hiện tại Quốc đang trong thời gian chấp hành biện pháp quản lý sau cai tại nơi cư trú theo Quyết định số 15/QĐ – UBND ngày 29/11/2024 của UBND phường Hoà Hiệp Nam cũ (nay là UBND P. Hải Vân), TP. Đà Nẵng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 để xử phạt bị cáo Vương Duy Quốc từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ Luật hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa dung tích 500ml được niêm phong bởi 01 tờ giấy màu trắng quấn trên miệng chai, ký hiệu mẫu A thu giữ, đây là công cụ bị cáo sử dụng việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vương Duy Q đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã đề cập. Bị cáo không có ý kiến về mặt tội danh cũng như điều Luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người đã tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Vương Duy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với những chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để xác định: Vương Duy Q là người đang trong thời gian chấp hành biện pháp Quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú, thời hạn 02 năm, kể từ ngày 29/11/2024 đến ngày 29/11/2026 theo Quyết định số 15/QĐ – UBND ngày 29/11/2024 của UBND phường Hoà Hiệp Nam cũ (nay là UBND P. Hải Vân), thành phố Đà Nẵng. Nhưng vào ngày 29/9/2025, Quốc vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine tại nhà riêng ở tổ 42, phường Hải Vân, TP. Đà Nẵng và đến ngày 30/9/2025 thì bị Cơ quan Công an phát hiện. Theo kết luận giám định số: 1029/KL – KTHS ngày 08/10/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự CATP. Đà Nẵng, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Vương Duy Quốc.
Do đó, hành vi phạm tội lần này của bị cáo Vương Duy Q đã phạm vào tội “ sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 như cáo trạng số: 43/CT – VKS - KV4 ngày 25/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Vương Duy Q là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân, hành vi mà bị cáo đã thực hiện thì thấy rằng: Hành vi này không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, đối với bị cáo Vương Duy Q phải bị xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Vương Duy Q như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chai nhựa dung tích 500ml được niêm phong bởi 01 tờ giấy màu trắng quấn trên miệng chai, ký hiệu mẫu A thu giữ, đây là công cụ bị cáo sử dụng việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với các vấn đề khác:
- Đối với người thanh niên tên Hùng đã bán ma tuý cho Vương Duy Q, do hiện tại chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập
- Đối với ông Vương K, bà Bùi Thị T, ông Vương Gia Kh, bà Trần Thị Thanh Tr – là người nhà của Vương Duy Quốc, do những người này không biết việc Quốc đã cất giấu và sử dụng ma tuý tại nhà nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Vương Duy Q phải chịu: 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
Bị cáo Vương Duy Q phạm tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Xử phạt bị cáo Vương Duy Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian thụ hình tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 23/10/2025
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa dung tích 500ml được niêm phong bởi 01 tờ giấy màu trắng quấn trên miệng chai, ký hiệu mẫu A.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/12/2025
3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Vương Duy Q phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Tòa án TP Đà Nẵng; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - VKSND khu vực 4 – Đà Nẵng; - Công an thành phố Đà Nẵng - Thi hành án dân sự TP. Đà Nẵng - Những người Tham gia tố tụng - Lưu hồ sơ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương Thanh Phúc |