- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Cao A - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Kiều Cao Ả, Phùng Xuân Dng, Nguyễn Văn D và Nguyễn Đức T phạm tội "Đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự và giao
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2026/HSST Ngày 04/02/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga và bà Ngô Thị Như Hoa;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Lê Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2026/TLST-HS, ngày 16/01/2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 01 năm 2026, đối với các bị cáo:
1. Kiều Cao Ả - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11 tháng 5 năm 1960. Nơi cư trú: Tổ 04, phường HB ( phường PL), tỉnh PT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Thẻ CCCD: 001060023246, cấp ngày 25/3/2021. Nơi cấp: Cục C06 – Bộ Công an;
Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Bị cáo là Đảng viên đảng cộng sản Việt Nam - Bị khai trừ ra khỏi đảng theo Quyết định thi hành kỷ luật số 08/QĐ-UBKTĐU của Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ phường Hoà Bình ngày 31/ 12/ 2025; con ông Kiều Cao T (Đã chết) và con bà Vũ Thị S (Đã chết); có vợ là Trần Thị Ph, sinh năm 1963; có 01 con Kiều Cao T, sinh năm 1987
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).
2. Phùng Xuân Dng- Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28 tháng 07 năm 1985. Nơi thường trú: thôn Đông Viên, xã Trần Phú, thành phố Hà Nội. Nơi tạm trú: Tổ 11, phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Thẻ CCCD: 001085044997, cấp ngày 04 tháng 07 năm 2025 . Nơi cấp: Cục C06 – Bộ Công an; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phùng Xuân Trang, sinh năm 1960 và con bà Bùi Thị Tuất, sinh năm 1964; có vợ là Phùng Thị Hội, sinh năm 1990; có 01 con Phùng Bích Thảo, sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
3. Nguyễn Văn D - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07 tháng 7 năm 1986. Nơi thường trú: Thôn An Thuận 1, xã Trần Phú, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện tại: Tổ 04, phường HB, tỉnh PT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Thẻ CCCD: 001086046997, cấp ngày 22 tháng 11 năm 2021. Nơi cấp: Cục C06 – Bộ Công an; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1955 và con bà Phùng Thị C, sinh năm 1953; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; Có 02 con, lớn Nguyễn Văn Gia H, sinh năm 2012; nhỏ Nguyễn Văn Gia H, sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tháng 02/2015 Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
4. Nguyễn Đức T - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 22 tháng 5 năm 1982. Nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường HB, tỉnh PT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Thẻ CCCD: 017082010187, cấp ngày 11/8/2021. Nơi cấp: Cục C06 – Bộ Công an; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Trọng H (Đã chết) và con bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1955; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; Có 03 con, con lớn Nguyễn Trường H, sinh năm 2009; con thứ hai Nguyễn Diệu N, sinh năm 2011; con thứ ba Nguyễn Đức T, sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Kiều Cao Ả, Nguyễn Văn D, Phùng Xuân Dng và Nguyễn Đức T có mối quan hệ quen biết nhau ngoài xã hội. Khoảng 19 giờ ngày 06/11/2025, Kiều Cao Ả rủ Nguyễn Văn D, Phùng Xuân Dng, và Nguyễn Đức T đến nhà Kiều Cao Ả tại Tổ 04, phường Hòa Bình ( phường Phương Lâm cũ), tỉnh Phú Thọ để ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, sau khi ăn cơm xong Ả rủ D, D, T đánh bạc dưới hình thức đánh "Liêng" bằng tú lơ khơ được thua bằng tiền mặt VNĐ, tất cả đều đồng ý. Ả bảo mọi người lên tầng 2 của nhà mình, sau đó Ả chuẩn bị sẵn 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân lấy tại hàng tạp hoá ở nhà Ả cầm lên tầng 2, Ả lấy 01 (một) tấm thảm màu hồng trải lên trên chiếu dưới nền phòng ngủ, sau đó Ả, Dũng, Dần, T cùng ngồi xuống chiếu để đánh bạc.
Cách thức chơi đánh bạc " đánh liêng" được các đối tượng thống nhất, cụ thể như sau: Bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, mỗi người được chia 3 lá bài úp xuống và chơi bằng hình thức tính điểm. Trong đó Sáp là to nhất, tức là ba lá bài giống nhau (ví dụ ba lá A, ba lá K, ba lá 2). Sau Sáp đến Liêng (tức là ba lá liên tiếp bất kì, to nhất là Q,K,A theo chất rô, cơ, bích, tép rồi đến J,Q,K,…). Sau "Liêng" đến "Ả" là các lá bài có hình đầu người ví dụ như J,Q,K, hoặc J,J,Q,.. Cuối cùng nếu không ai có "Sáp, Liêng, Ả" thì sẽ tính điểm, trong đó điểm to nhất là 9 điểm, nhỏ nhất là 0 điểm (trong đó nếu bài trên tay tổng là 10 điểm thì tính là 0 điểm). Tất cả thống nhất đánh với nhau theo lượt tố bài, người chia bài là người được tố đầu tiên, tố thấp nhất của lượt tố là 20.000 đồng và không ai được tố quá 100.000 đồng và không giới hạn số vòng tố. Sau người tố đầu tiên thì tiếp tục đến người chơi tiếp theo vòng từ phải qua trái. Trong trường hợp người nào có bài Sáp thắng ván cược đó thì ngoài thắng được tiền tố của các người chơi khác thì các người chơi còn lại phải trả thêm cho người có bài Sáp là 100.000 đồng, nếu là Liêng đồng chất thì phải trả thêm cho người thắng là 60.000 đồng.
Đến 23 giờ 00 phút cùng ngày, khi Ả, T, Dũng, Dần đang đánh bạc thì bị tổ công tác của Phòng cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm: Tiền Việt Nam đang lưu hành là 9.630.000đ (Chín triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng); 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 (một) tấm thảm màu hồng, kích thước 170cm x 140cm.
Bản Cáo trạng số 43/CT-VKSKV 12, ngày 15 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Kiều Cao Ả, Nguyễn Văn D, Phùng Xuân Dngvà Nguyễn Đức T về tội "Đánh bạc". Theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Kiều Cao Ả, Nguyễn Văn D, Phùng Xuân Dng và Nguyễn Đức T về tội "Đánh bạc “.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 17, 58, 65 Bộ luật hình sự 2015.
- Xử phạt bị cáo Kiều Cao Ả từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc” và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc” và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 17, 58, 65 Bộ luật hình sự 2015.
- Xử phạt bị cáo Phùng Xuân Dng từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc” và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc” và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng; Căn cứ Điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ; 01 (một) tấm thảm màu hồng, kích thước 170cm x 140cm.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.630.000đ (Chín triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm án phí theo quy định.
Sau khi nghe bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ, các bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa mà thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản luận tội đã nêu.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đều trình bày đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cẢ sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12-Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Phú Thọ đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khoảng 19 giờ ngày 06/11/2025, Kiều Cao Ả rủ Nguyễn Văn D, Phùng Xuân Dng, và Nguyễn Đức T đến nhà Kiều Cao Ả để ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, sau khi ăn cơm xong Ả rủ D, Dng, T đánh bạc dưới hình thức đánh "Liêng" bằng tú lơ khơ được thua bằng tiền mặt VNĐ, tất cả đều đồng ý. Ả bảo mọi người lên tầng 2 của nhà mình, sau đó Ả chuẩn bị sẵn 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân lấy tại hàng tạp hoá ở nhà Ả cầm lên tầng 2, Ả lấy 01 (một) tấm thảm màu hồng trải lên trên chiếu dưới nền phòng ngủ, sau đó Ả, Dg, D, T cùng ngồi xuống chiếu để đánh bạc. Các bị cáo đánh bạc đến 23 giờ 00 phút cùng ngày, thì bị tổ công tác của Phòng cảnh sát hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang.
Các bị cáo đã tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi “liêng” bằng bộ bài tú lơ khơ 52 quân với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 9.630.000đ (Chín triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng). Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12- Phú Thọ truy tố các bị cáo phạm tội về hành vi đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng quy định của pháp luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do các bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét vai trò đồng phạm, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy đây là vụ án đồng phạm giản đơn, tính chất quy mô và số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn, tham gia đánh bạc mang tính bột phát.
Trong đó bị cáo Kiều Cao Ả là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo, cung cấp công cụ phạm tội và chuẩn địa điểm để đánh bạc, nên được xếp vai trò là đầu vụ và hình phạt cao hơn bị cáo khác. Đối với các bị cáo Phùng Xuân Dng, Nguyễn Văn D và Nguyễn Đức T là người tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm nên mức hình phạt của các bị cáo thấp hơn bị cáo Ả.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân:
- Bị cáo Nguyễn Văn D: Tháng 02/2015 Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” (đã chấp hành xong).
- Các bị cáo Kiều Cao Ả, Phùng Xuân Dng, Nguyễn Đức T đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo Kiều Cao Ả, Nguyễn Văn D, Phùng Xuân Dng, Nguyễn Đức T đều “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng", đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Bị cáo Kiều Cao Ả là người có thành tích trong công tác xã hội tại địa phương; Bị cáo Nguyễn Văn D có Bác ruột là Liệt sỹ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự;
Về hình phạt: Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo; Hội đồng xét xử, xét thấy:
Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, số tiền tham gia đánh bạc của các bị cáo không lớn nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tùy theo tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo mà áp dụng mức hình phạt phù hợp với Điều 65 của Bộ luật hình sự và giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ tính răn đe, giáo dục.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp.
. Các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự:
* Trong khi bắt quả tang các bị cáo đang đánh bạc cơ quan điều tra thu giữ một số tài sản mang theo trên người của các bị cáo như sau: Thu giữ của Kiều Cao Ả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15 màu xanh đen. Tình trạng đã qua sử dụng; Thu giữ của Nguyễn Văn D 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno14 F 5G màu xanh. Tình trạng đã qua sử dụng; Thu giữ của Nguyễn Đức T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng. Tình trạng đã qua sử dụng. Quá trình xác minh xác định số tài sản trên của các bị cáo mang theo để trên người và không sử dụng vào mục đích đánh bạc, đây là tài sản hợp pháp của các bị cáo nên Cơ quan CẢ sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã trả lại cho các bị cáo là phù hợp.
* Số tiền 9.630.000đ (Chín triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) thu giữ tại chiếu bạc là tiền các bị cáo đã sử dụng vào đánh bạc nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước.
* Các vật chứng khác: 01 bộ tú lơ khơ gồm 52 quân bài và 01 (một) tấm thảm màu hồng, kích thước 170cm x 140cm là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Kiều Cao Ả, Phùng Xuân Dng, Nguyễn Văn D và Nguyễn Đức T phạm tội "Đánh bạc".
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự 2015, đối với các bị cáo Kiều Cao Ả, Nguyễn Văn D.
- Xử phạt bị cáo Kiều Cao Ả 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự 2015, đối với các bị cáo Phùng Xuân Dng, Nguyễn Đức T.
- Xử phạt bị cáo Phùng Xuân Dng 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Kiều Cao Ả, Nguyễn Văn D, Phùng Xuân Dng, Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân Phường Hòa Bình, Tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 BLHS.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
3.1. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 9.630.000đ (Chín triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam.
3.2. Tịch thu tiêu hủy: 52 (năm hai) quân bài tú lơ khơ; 01 (một) tấm thảm màu hồng, kích thước 170cm x 140cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 33/BB-GNVC, ngày 28 tháng 01 năm 2026, giữa Cơ quan cẢ sát điều tra công an tỉnh Phú Thọ và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Phú Thọ).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Kiều Cao Ả, Nguyễn Văn D, Phùng Xuân Dng, Nguyễn Đức T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; -VKSND tỉnh Phú Thọ; - Công an tỉnh Phú Thọ; - VKSND KV12-Phú Thọ; - Phòng THADS KV 12-Phú Thọ; - Bị cáo; - UBND xã, phường nơi các bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Thịnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đức Thịnh |