vanban.org

Bản án 16/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Đức H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Đức H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giam tại Phân trại tạm giam N thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn từ ngày 10/10/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo Trương Đức H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Đức H - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Đức H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2026/HS-ST
Ngày 23-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Tâm;

Bà Phan Minh Thi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Trương Đức H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 8 năm 1994 tại xã N, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã N, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn H và bà Hoàng Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giam tại Phân trại tạm giam N thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn từ ngày 10/10/2025 đến nay, có mặt.

Người làm chứng: Anh Hứa Văn N, sinh năm 1991, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/10/2025, Tổ công tác Công an xã N, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại thôn N, xã N, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Trương Đức H, trú tại: Thôn L, xã N, tỉnh Lạng Sơn có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý. Khi thấy Tổ công tác, Trương Đức H bỏ chạy nhưng bị truy đuổi, bắt giữ, Trương Đức H khai nhận do trước đó đã sử dụng ma tuý Heroin, lo sợ bị lực lượng Công an phát hiện. Tổ công tác đã đưa Trương Đức H về trụ sở Công an xã N, tỉnh Lạng Sơn để làm rõ sự việc, đồng thời tiến hành kiểm tra nhanh mẫu nước tiểu của Trương Đức H có kết quả dương tính với chất ma tuý. Cơ quan điều tra đã thu mẫu nước tiểu của Trương Đức H để trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 2801/KL-KTHS ngày 10/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Mẫu nước tiểu thu của Trương Đức H, sinh năm 1994, HKTT: L, N, Lạng Sơn gửi giám định có tìm thấy chất ma túy Morphine và 6-MAM (6-Monoacctlymorphine) là sản phẩm chuyển hóa của Heroin.

Tại Cơ quan điều tra, Trương Đức H khai nhận: Bản thân sử dụng ma tuý từ năm 2015, hình thức sử dụng là hút. Ngày 24/12/2024, H đăng ký điều trị nghiện bằng Methadone tại Trung tâm Y tế khu vực V, tỉnh Lạng Sơn. Đến ngày 05/01/2025, H tự ý chấm dứt điều trị nghiện và tiếp tục sử dụng ma tuý. Lần gần nhất H sử dụng ma túy là khoảng 11 giờ 00 ngày 08/10/2025, H đi đến thôn V, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn mua 01 gói ma tuý giá 100.000 đồng với một người đàn ông lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi đem về sử dụng tại khu vực bờ suối thuộc thôn N, xã N, tỉnh Lạng Sơn. Đến ngày 09/10/2025, khi H đi đến khu vực thôn N, xã N, tỉnh Lạng Sơn thì thấy lực lượng Công an, do lo sợ nên đã bỏ chạy. Sau đó, H được lực lượng Công an đưa về trụ sở để kiểm tra nhanh chất ma tuý trong cơ thể hiển thị kết quả dương tính với chất ma tuý.

Tại biên bản làm việc ngày 09/10/2025, Trung tâm Y tế khu vực V, tỉnh Lạng Sơn cho biết Trương Đức H từng đăng ký tham gia điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế là Methadone tại Trung tâm Y tế khu vực V, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 24/12/2024. Đến ngày 05/01/2025, Trương Đức H tự ý chấm dứt điều trị cho đến nay.

Với nội dung sự việc trên, tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSKV2 ngày 17/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trương Đức H về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Đức H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không bị oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lạng Sơn trong phần tranh luận, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Đức H phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy, áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a; Điều 38; Điều 50; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Đức H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Không có.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xử cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người người làm chứng anh Hứa Văn N. Hội đồng xét xử nhận thấy người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra và được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của anh N không ảnh hưởng đến phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội đối với bị cáo Trương Đức H: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Cụ thể bị cáo Trương Đức H là đối tượng nghiện chất ma túy Heroin, tham gia điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng chất thay thế Methadone tại Trung tâm Y tế khu vực V, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 24/12/2024, đến ngày 05/01/2025 H tự ý chấm dứt điều trị. Ngày 08/10/2025, H sử dụng ma túy và bị phát hiện, sau khi lực lượng chức năng kiểm tra nhanh mẫu nước tiểu của H dương tính với chất ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn tiến hành thu mẫu nước tiểu của Trương Đức H để giám định, kết quả tìm thấy chất ma túy Morphine và 6-MAM (6-Monoacctlymorphine) là sản phẩm chuyển hóa của Heroin. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Trương Đức H về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, theo điểm d khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trương Đức H là ít nghiêm trọng, nhưng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, góp phần tạo ra những lớp người nghiện, là hiểm họa gây ra các tệ nạn xã hội, đe dọa đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của cộng đồng và gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo nhận thức được ma túy là chất độc hại, bị nhà nước cấm sử dụng. Tuy nhiên, bị cáo đã tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma túy và tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, vì vậy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân: Bị cáo Trương Đức H chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo nghiện chất ma túy, tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma túy và bị cáo lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định khung hình phạt bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có ông nội là Trương Văn T được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trương Đức H vào ngày 08/10/2025 tại thôn V, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, với những thông tin do bị cáo cung cấp không đủ cơ sở, căn cứ để xác định được con người cụ thể. Khi có đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Trương Đức H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a; Điều 38; Điều 50; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 329; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Đức H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Đức H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giam tại Phân trại tạm giam N thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn từ ngày 10/10/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Trương Đức H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trương Đức H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ