- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Yên - Tội vi phạm quy định về giao thông đường bộ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Văn Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2026/HS-ST Ngày 20-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Dũng (Cán bộ hưu trí).
2. Bà Nguyễn Thị Hòa (Giáo viên).
- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Cẩm Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Lê Ngọc Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2026/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:
Lê Văn Y, sinh ngày 26/11/1985, tại tỉnh Đắk Lắk; tên gọi khác: không; nơi cư trú: thôn T, xã S, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Lê Văn T (sinh năm 1939) và bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1958); gia đình có 04 anh em (bị cáo là con thứ ba); vợ: Dương Thị T1, sinh năm 1985 và có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/7/2025 đến ngày 04/12/2025, đang tại ngoại. Có mặt.
* Bị hại: Trương Khả H1 (chết).
Người đại diện hợp pháp của Trương Khả H1: ông Trương Thanh T2, sinh năm: 1980 và bà Huỳnh Thị Bích L, sinh năm 1984; cùng trú tại: khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Trần Văn H2, sinh năm: 2009. Người đại diện hợp pháp của Trần Văn H2: ông Trần Văn V, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Thúy T3, sinh năm: 1978; cùng trú tại: Khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phảp của Trần Văn H2: ông Nguyễn N
- Luật sư ký hợp đồng trợ giúp pháp lý của Trung tâm T10 tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Trương Ngọc S, sinh năm: 2009. Người đại diện hợp pháp của Trương Ngọc S: ông Trương Mai S1, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh năm: 1982; cùng trú tại: Khu phố D, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Vạn T4, sinh năm: 2013. Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Vạn T4: ông Nguyễn Minh T5, sinh năm 1982 và bà Trương Thị Mỹ D, sinh năm: 1985; cùng trú tại: khu phố P, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Vi Thị T6, sinh năm: 1990; nơi cư trú: thôn Đ, xã R, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
- Ông Trần Thanh P, sinh năm 1974; nơi cư trú: khu phố P, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
- Trung tâm văn hóa thể thao và truyền thanh phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Đại diện hợp pháp của Trung tâm văn hóa thể thao và truyền thanh phường Đ, tỉnh Đắk Lắk: ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1978; nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lê Cao L1, sinh năm: 1992; nơi cư trú: thôn B, xã S, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm: 1990; nơi cư trú: Tổ I, Khu phố D, phường T, TP Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Ông Dương Văn T8, sinh năm: 1988; nơi cư trú: Tổ E, phường C, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Trương Huy H4, sinh năm: 2011. Người đại diện hợp pháp của người làm chứng Trương Huy H4: ông Trương Thanh T2, sinh năm: 1980 và bà Huỳnh Thị Bích L, sinh năm 1984; cùng trú tại: Khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trương Đức H5, sinh năm: 1983; nơi cư trú: thôn S, xã S, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/7/2025, Lê Văn Y có giấy phép lái xe ô tô hạng FC điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 kéo sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88 (do Lê Cao L1, sinh năm 1992, trú tại thôn B, xã S, tỉnh Đắk Lắk làm chủ sở hữu, xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 đã hết hạn kiểm định) chở 48.064kg cây gỗ keo đi từ xã V, tỉnh Đắk Lắk đến khu công nghiệp B thuộc xã Đ, tỉnh Khánh Hòa và lưu hành trên đường tỉnh lộ ĐT643 theo hướng Tây – Đ, đi trên xe còn có chị Vi Thị T6 (sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã R, tỉnh Quảng Ngãi). Đến khoảng 14 giờ 08 phút cùng ngày, khi đi đến Km1343+100m Quốc lộ A thuộc Khu phố B, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk, Y điều khiển xe tô tô đi ở làn đường thứ 2 (sát giải phân cách cố định giữa đường) hướng Bắc - Nam với tốc độ khoảng 40km/h. Lúc này, đèn tín hiệu giao thông nơi giao nhau giữa đường Q và đường V - Nguyễn Tất T9 là đèn đỏ, phía trước xe ô tô của Y có 01 xe ô tô (chưa xác định rõ loại xe, biển số) đang dừng đèn đỏ. Do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền kề phía trước đang dừng đèn đỏ nên Y đạp thắng cho xe dừng lại nhưng xe vẫn chạy về phía trước, sợ tông vào xe ô tô phía trước nên Y đánh tay lái sang phải để né tránh thì xe ô tô do Y điều khiển vẫn trượt về phía trước vượt qua đèn đỏ, thùng xe bên phải va chạm vào trụ đèn điện chiếu sáng đặt trên giải phân cách cố định ở phía Tây đường Q, làm hư hỏng 01 cụm đèn. Yên tiếp tục đánh tay lái về bên trái thì xe bị mất thăng bằng ngã nghiêng về phía bên phải làm cây gỗ keo trên xe đổ tràn xuống đường, cây gỗ keo văng ra va đập trúng vào người và đầu em Trương Khả H1 (sinh ngày 09/01/2009, trú tại Khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk) và em Trần Văn H2 (sinh ngày 14/8/2009, trú tại Khu phố C, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk) đang đi bộ phía bên trong đường nội bộ theo thướng Bắc - N (song song với đường Q), gây ra tai nạn. Hậu quả làm H1 chết tại chỗ, H2 bị thương tích, điện thoại di động hiệu IPHONE XSM 64G của H1 bị hư hỏng. Cùng lúc này, em Trương Ngọc S (sinh ngày 08/6/2009, trú tại Khu phố D, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk) điều khiển xe đạp điện chở em Nguyễn Vạn T4 (sinh ngày 09/9/2013, trú tại thôn P, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk) đi trên đường nội bộ ở phía Tây đường Quốc lộ A theo hướng Bắc – Nam và anh Trần Thanh P (sinh năm 1974, trú thôn P, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk) điều khiển xe mô tô biển số 78G1-373.54 đi trên đường N từ hướng Tây đến ngã tư chuẩn bị qua đường thì bị cây gỗ keo va đập trúng vào người và phương tiện làm Trương Ngọc S, Nguyễn Vạn T4 và Trần Thanh P bị thương tích, xe mô tô và xe đạp điện bị hư hỏng. Ngoài ra, khi cây gỗ keo văng ra đường đã va đập làm hư hỏng 03 bóng đèn Led loại đèn chiếu sáng điện đường (02 bóng loại 150W, 01 bóng loại 200W) do Trung tâm văn hóa thể thao và truyền thanh phường Đ, tỉnh Đắk Lắk quản lý.
* Tại Bản kết luận giám định số: 85 ngày 29/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Nguyên nhân Trương Khả H1 chết là do đa chấn thương vỡ sọ, giập phòi não.
* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 55 ngày 21/8/2025; số 58, số 59 cùng ngày 22/8/2025; số 56 ngày 23/8/2025; số 72 ngày 03/9/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận:
- Trần Thanh P bị thương tích xây xát da gò má trái không để lại sẹo, không làm biến đổi sắc tố da, thương tích tại thời điểm giám định là 00%.
- Nguyễn Vạn T4 bị thương tích tỉ lệ 04%.
- Trương Ngọc S bị thương tích tỉ lệ 02%.
- Trần Văn H2 bị thương tích tỉ lệ 03%.
- Vi Thị T6 bị thương sưng cổ tay trái + ngón I bàn tay trái không còn để lại sẹo hay thay đổi sắc tố da, thương tích tại thời điểm giám định là 00%.
* Tại Bản kết luận giám định số 38, 39 ngày 07/7/2025 của Trung tâm đăng kiểm phương tiện GTVT 78.01S tỉnh Đ kết luận:
- Tại thời điểm kiểm tra an toàn kỹ thuật xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 có các hư hỏng do tai nạn giao thông. Đèn xin đường, đèn báo nguy hiểm sau bên phải và đèn báo kích thước, đèn phanh sau bên trái không hoạt động. Các hệ thống tổng thành đạt yêu cầu.
- Tại thời điểm kiểm tra an toàn kỹ thuật sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88 có 01 chốt khóa Container trước bên trái gãy là do tai nạn. Lốp trục 03 bên phải mòn quá dấu chỉ báo của nhà sản xuất và phần khung sơ mi rơmoóc có gia cố thêm 06 hộp sắt không đạt. Các hệ thống tổng thành đạt yêu cầu.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 565 ngày 28/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Đắk Lắk kết luận:
- 01 xe mô tô biển số 78G1-373.54 nhãn hiệu HONDA loại xe VISON bị hư hỏng thiệt hại trị giá 1.301.570 đồng.
- 01 xe đạp điện hiệu JUKIO bị hư hỏng thiệt hại trị giá 1.390.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu IPHONE XSM 64G bị hư hỏng thiệt hại trị giá 6.990.000 đồng.
- 02 bóng đèn Led loại 150W, mỗi bóng có kích thước (31x34)cm bị hư hỏng thiệt hại trị giá 3.968.619 đồng.
- 01 bóng đèn Led loại 200W, kích thước (23x32)cm bị hư hỏng thiệt hại trị giá 2.513.792 đồng.
- 01 cụm gồm vỏ và thiết bị bên trong đèn chiếu sáng điện đường, hiệu TAIWAN loại HLG-185H-36A bị hư hỏng thiệt hại trị giá 11.202.008 đồng.
* Vật chứng vụ án, đồ vật, tài sản tạm giữ:
- 01 xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 bị hư hỏng do tai nạn.
- 01 sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88 bị hư hỏng do tai nạn.
- 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1990354 của xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50, có hiệu lực đến hết ngày 20/6/2025.
- 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 2182716 của sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88, có hiệu lực đến hết ngày 13/7/2025.
- 03 đoạn cây gỗ keo gồm: 01 đoạn dài 2,25m đường kính trung bình 11cm, hai đầu đoạn cây được cắt bằng phẳng, một đầu đoạn cây có bám dính chất màu đỏ thẩm còn ướt; 01 đoạn dài 2,58m đường kính trung bình 6,5cm, hai đầu đoạn cây được cắt bằng phẳng; 01 đoạn dài 1,45m đường kính trung bình 05cm một đầu đoạn cây bị gãy nham nhở (03 đoạn cây gỗ keo này nằm gần với tử thi Trương Khả H1).
- 01 giấy phép lái xe số 310186027338, hạng FC, tên Lê Văn Y, do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 03/8/2022, có giá trị đến ngày 03/8/2027.
* Về dân sự: bị cáo đã cùng với Lê Cao L1 (chủ xe) tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Trương Khả H1 số tiền 229.000.000 đồng (trong đó Y bồi thường 137.000.000 đồng, L1 bồi thường thường 92.000.000 đồng); bị cáo bồi thường cho Trần Thanh P số tiền 15.500.000 đồng, bồi thường cho Nguyễn Vạn T4 số tiền 7.000.000 đồng. Lê Cao L1 bồi thường cho Trung tâm văn hóa thể thao và truyền thanh phường Đ, tỉnh Đắk Lắk số tiền 17.684.419 đồng; đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (gồm: Trung tâm văn hóa thể thao và truyền thanh phường Đ, Trần Thanh P, Trần Văn H2, Trương Ngọc S, Nguyễn Vạn T4, Vi Thị T6) không ai yêu cầu bồi thường gì thêm.
* Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKS-KV12 ngày 18/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Lê Văn Y về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
* Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt chính: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Y từ 09 tháng đến dưới 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/7/2025 đến ngày 04/12/2025.
- Về hình phạt bổ sung: cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô tải trở lên trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
- Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu liên quan: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật TTHS, đề nghị:
+ Đối với: 01 xe mô tô biển số 78G1-373.54 nhãn hiệu HONDA loại xe VISON bị hư hỏng do tai nạn; 01 xe đạp điện nhãn hiệu JUKIO bị hư hỏng do tai nạn; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE XSM 64G bị hư hỏng do tai nạn; 02 bóng đèn Led loại 150W, mỗi bóng có kích thước (31x34)cm bị hư hỏng do tai nạn; 01 bóng đèn Led loại 200W có kích thước (23x32)cm bị hư hỏng do tai nạn và 01 cụm gồm vỏ và thiết bị bên trong đèn chiếu sáng điện đường hiệu TAIWAN loại HLG-185H-36A bị hư hỏng do tai nạn, đã trả lại cho chủ sở hữu trong giai đoạn điều tra nên không xem xét.
+ Trả lại 01 giấy phép lái xe số 310186027338, hạng FC có giá trị đến ngày 03/8/2027 cho bị cáo Lê Văn Y.
+ Đối với 01 xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 (bị hư hỏng do tai nạn) và 01 sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88 (bị hư hỏng do tai nạn) do Lê Cao L1 làm chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã có quyết định tách hành vi, tài liệu có liên quan và đang thụ lý giải quyết theo thủ tục tin báo về tội phạm để xem xét, đánh giá hành vi của Lê Cao L1 có phạm tội hay không, nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ tiếp tục tạm giữ đối với 01 xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 và 01 sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88, nên không xem xét giải quyết.
+ án này.dịnh. lưu vào hồ sơ vụ án ng còn giá trị để sửan tỉnh Đắk Lắkm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 Đối với 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1990354 của xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50, có hiệu lực đến hết ngày 20/6/2025 và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 2182716 của sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88, có hiệu lực đến hết ngày 13/7/2025. Các giấy chứng này đã hết hiệu lực nên tịch thu lưu cùng hồ sơ vụ án.
+ Tịch thu tiêu hủy 03 đoạn cây gỗ keo gồm: 01 đoạn dài 2,25m đường kính trung bình 11cm, hai đầu đoạn cây được cắt bằng phẳng, một đầu đoạn cây có bám dính chất màu đỏ thẩm; 01 đoạn dài 2,58m đường kính trung bình 6,5cm, hai đầu đoạn cây được cắt bằng phẳng; 01 đoạn dài 1,45m đường kính trung bình 05cm một đầu đoạn cây bị gãy nham vì không còn giá trị sử dụng.
+ Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Bị cáo Lê Văn Y đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố; không tranh luận, đối đáp về mức hình phạt, xin được giảm nhẹ hình phạt.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không tranh luận, đối đáp gì; không yêu cầu xem xét về trách nhiệm dân sự.
* Luật sư Nguyễn N – Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phảp của Trần Văn H2, không tranh luận về tội danh, mức hình phạt; không yêu cầu bồi thường thiệt hại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Lời nói sau cùng: bị cáo Y ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình bị cáo đang khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều có giá trị chứng minh.
Đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng đều có đơn xin vắng mặt; tất cả đã có lời khai có tại hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi của bị cáo Lê Văn Y: lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với: biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường các dấu vết, vị trí va chạm trên mặt đường, dữ liệu được thu giữ từ camera tại nơi xảy ra tai nạn, kết luận giám định tử thi, biên bản thực hiện giám định, các kết luận giám định phương tiện xe ô tô đầu kéo sơ mi rơ moóc gây tai nạn, kết luận định giá tài sản, kết luận tổn thương trên cơ thể người sống; phù hợp về thời gian, địa điểm, nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 14 giờ 08 phút ngày 01/7/2025, tại Km 1343+100m Quốc lộ A thuộc Khu phố B, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Lê Văn Y đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải đầu kéo biển số 61H-104.50 kéo sơ mi rơ moóc biển số 98R-031.88 chở 48.064kg cây gỗ keo lưu hành trên đường Q theo hướng Bắc – Nam nhưng thiếu chú ý quan sát, không chấp hành tín hiệu đèn giao thông đường bộ, điều khiển xe ô tô vượt đèn đỏ làm xe ngã xuống đường, cây gỗ keo trên xe văng ra trúng vào người em Trương Khả H1 làm em H1 chết do chấn thương vỡ sọ, giập phòi não; gây thương tích cho Nguyễn Vạn T4 tỉ lệ 04%, Trương Ngọc S tỉ lệ 02% và Trần Văn H2 tỉ lệ 03%; gây thiệt hại về tài sản của Trương Khả H1, Trần Thanh P, Nguyễn Vạn T4 và Trung tâm văn hóa thể thao và truyền thanh phường Đ, tỉnh Đắk Lắk với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 27.365.989 đồng.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 10, khoản 1, 3 Điều 12 Luật Trật tự, An toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 “không chấp hành báo hiệu đường bộ và các quy tắc giao thông đường bộ khác; không quan sát, giữ khoảng cách an toàn, giảm tốc độ hoặc dừng lại tại nơi có đèn tín hiệu giao thông có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ” là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ. Do đó, Cáo trạng số 02/CT-VKS-KV12 ngày 18/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (làm chết người) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi của bị cáo thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn tại nơi giao nhau có đèn tín hiệu giao thông trong khu dân cư, dẫn đến đánh lái gấp, không phanh kịp thời khi điều khiển xe ô tô tải kéo sơ mi rơ moóc, làm xe vượt đèn đỏ và mất thăng bằng ngã xuống đường, cây gỗ keo trên xe văng ra đã gây tai nạn, xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác là lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo Y, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương đối với người tham gia giao thông, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo, đồng thời còn có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội như lời luận tội của Kiểm sát viên là phù hợp.
Về nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người làm công nhưng tự nguyện cùng chủ xe bồi thường toàn bộ cho gia đình bị hại số tiền 229.000.000 đồng ngay sau khi tai nạn (bị cáo bồi thường 137.000.000 đồng) và bồi thường cho những người có quyền lợi liên quan đến vụ án, được gia đình bị hại viết đơn xin bãi nại và những người có quyền lợi liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận là lao động chính trong gia đình, nuôi vợ và 02 con, gia đình bị cáo hiện có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử khi lượng hình sẽ áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo trên cơ sở xem xét sự chủ động, tích cực và thái độ của bị cáo trong việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự của Kiểm sát viên xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng.
Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Do đó, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe ô tô tải trở lên của Kiểm sát viên để răn đe, giáo dục trực tiếp bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 589, 590, 591, 600, 601 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Bị cáo Lê Văn Y, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Cao L1 (chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 kéo sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88) và đại diện gia đình bị hại đã tự thỏa thuận giải quyết phù hợp với đạo đức xã hội, không trái pháp luật; bồi thường thiệt hại xong trong quá trình điều tra, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Đối với những thiệt hại khác đã được bị cáo và các đương sự tự thỏa thuận giải quyết trong quá trình điều tra, không ai có yêu cầu giải quyết bồi thường thêm hoặc xem xét phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với: 01 xe mô tô biển số 78G1-373.54 nhãn hiệu HONDA loại xe VISON; 01 xe đạp điện nhãn hiệu JUKIO; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE XSM 64G; 02 bóng đèn Led loại 150W, mỗi bóng có kích thước (31x34)cm; 01 bóng đèn Led loại 200W có kích thước (23x32)cm; 01 cụm gồm vỏ và thiết bị bên trong đèn chiếu sáng điện đường hiệu TAIWAN loại HLG-185H-36A (tất cả đều bị hư hỏng do tai nạn), được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định.
Đối với: 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1990354 của xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50, có hiệu lực đến hết ngày 20/6/2025; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 2182716 của sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88, có hiệu lực đến hết ngày 13/7/2025 – giấy tờ không còn giá trị sử dụng nên tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án.
Vì bị cáo Lê Văn Y bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghế lái xe ô tô tải trở lên nên cần tiếp tục tạm giữ 01 giấy phép lái xe số 310186027338, hạng FC có giá trị đến ngày 03/8/2027, do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 03/8/2022, đang lưu cùng hồ sơ vụ án.
Đối với: 01 xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 bị hư hỏng do tai nạn; 01 sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88 bị hư hỏng do tai nạn, là vật liên quan đến tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu trong vụ án có liên quan đến hành vi đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không đảm bảo an toàn của Lê Cao L1 nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ tiếp tục tạm giữ đối với 01 xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 và 01 sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88; Lê Cao L1 không khiếu nại, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Đối với 03 đoạn cây gỗ keo gồm: 01 đoạn dài 2,25m đường kính trung bình 11cm, hai đầu đoạn cây được cắt bằng phẳng, một đầu đoạn cây có bám dính chất màu đỏ thẩm; 01 đoạn dài 2,58m đường kính trung bình 6,5cm, hai đầu đoạn cây được cắt bằng phẳng; 01 đoạn dài 1,45m đường kính trung bình 05cm một đầu đoạn cây bị gãy nham nhở – vật mang dấu vết có giá trị chứng minh tội phạm, không còn giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Bị cáo Lê Văn Y phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Lê Văn Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Phạt: bị cáo Lê Văn Y 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/7/2025 đến ngày 04/12/2025.
Hình phạt bổ sung: cấm bị cáo Lê Văn Y hành nghề lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ 3.500 kg trở lên (thuộc trường hợp hành nghề lái xe phải có Giấy phép hạng CE trở lên (tương đương Giấy phép lái xe hạng FC theo quy định trước đây)) trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
2. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
3. Biện pháp tư pháp và xử lý tài liệu, đồ vật liên quan: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.1. Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) đoạn cây gỗ keo dài 2,25m đường kính trung bình 11cm, hai đầu đoạn cây được cắt bằng phẳng, một đầu đoạn cây có bám dính chất màu đỏ thẩm; 01 (một) đoạn cây gỗ keo dài 2,58m đường kính trung bình 6,5cm, hai đầu đoạn cây được cắt bằng phẳng; 01 (một) đoạn cây gỗ keo dài 1,45m đường kính trung bình 05cm một đầu đoạn cây bị gãy nham nhở.
Vật chứng, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án có tình trạng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/3/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Đắk Lắk.
3.2. Tiếp tục tạm giữ 01 xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50 bị hư hỏng do tai nạn; 01 sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88 (đang tạm giữ tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ).
3.3. Tiếp tục tạm giữ, lưu cùng hồ sơ vụ án: 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1990354 của xe ô tô đầu kéo biển số 61H-104.50, có hiệu lực đến hết ngày 20/6/2025; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 2182716 của sơmi rơmoóc biển số 98R-031.88, có hiệu lực đến hết ngày 13/7/2025; 01 giấy phép lái xe số 310186027338, hạng FC, tên Lê Văn Y, do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 03/8/2022, có giá trị đến ngày 03/8/2027.
4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Văn Y phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSNDKV12-Đắk Lắk; - Công an tỉnh Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hữu Duyên |