- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Đình T - Nguyễn Thị T Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2026/HNGĐ - ST Ngày 06/3/2026 (V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - N
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu và bà Nguyễn Thị Phương Thiệu
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - N tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Phượng – Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 03 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - N tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2025/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 07/2026/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2026 giữa các đương sự:
Nguyªn ®¬n: Anh Bùi Đình T, sinh n¨m 1991; Số định danh cá nhân/CMND: xxxxxxxx; địa chỉ: thôn H, xã G, tỉnh N (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
BÞ ®¬n: Chị Nguyễn Thị T, sinh n¨m 1997; Số định danh cá nhân/CMND: xxxxxxx; địa chỉ: thôn H, xã G, tỉnh N (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 02 tháng 10 năm 2025, và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Bùi Đình T trình bày: Giữa anh Bùi Đình T và bị đơn là chị Nguyễn Thị T, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 02 năm 2021, tại Uỷ ban nhân dân xã X, huyện Q, tỉnh N (Nay là xã G, tỉnh N). Sau khi kết hôn hai người chung sống cùng nhau tại xã G, tỉnh N. Anh Bùi Đình T và chị Nguyễn Thị T chung sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do tính tình không hợp, chị T không tu trí làm ăn phát triển kinh tế, không quan tâm đến chồng con, nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi, đánh nhau, không quan hệ với nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên nội, ngoại khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2025 cho tới nay. Anh T thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh T đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Về con chung anh Bùi Đình T trình bày: Vợ chồng anh có một con chung cháu là Bùi Đình H, sinh ngày 28/9/2022; Nếu được Toà án chấp nhận cho ly hôn, anh T đề nghị Tòa án giao con chung cho anh là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau ly hôn, anh không yêu cầu chị Nguyễn Thị T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh.
Về quan hệ tài sản và công nợ chung: Anh Bùi Đình T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về phía bị đơn là chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng cố tình vắng mặt không có lý do.
T¹i phiªn toµ vÞ ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n khu vực 3 - N, ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt Tè tông d©n sù trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö, Thư ký phiên tòa; viÖc chÊp hµnh ph¸p luËt cña ng êi tham gia tè tông d©n sù, kÓ tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn tr íc thêi ®iÓm Héi ®ång xÐt xö nghÞ ¸n đều tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu 147; khoản 1, ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227; khoản 1, kho¶n 3 §iÒu 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: Cho anh Bùi Đình T được ly hôn chị Nguyễn Thị T;
Về con chung: Giao cho anh Bùi Đình T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bùi Đình H, sinh ngày 28/9/2022, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về án phí: Anh Bùi Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Bùi Đình T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3 - N giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị T; chị Nguyễn Thị T có nơi cư trú tại xã G, tỉnh N, đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - N theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Nguyên đơn anh Bùi Đình T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị T đã được Toà án nhân dân khu vực 3 - N triệu tập hợp lệ đến phiên Toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Đình T và chị Nguyễn Thị T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã X, huyện Q, tỉnh N (Nay là xã G, tỉnh N) vào ngày 19 tháng 02 năm 2021. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ, sau khi kết hôn hai người chung sống hoà thuận, hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, kinh tế gia đình khó khăn, chị Trang không tu trí làm ăn phát triển kinh tế, không quan tâm đến chồng con, nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi, đánh nhau, không quan hệ với nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình nội, ngoại khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vẫn không được hàn gắn. Theo thời gian, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, nặng nề, thực tế vợ chồng đã ly thân nhau từ đầu năm 2025 đến nay, cũng từ đó hai người không quan tâm đến nhau, quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Điều này phù hợp với biên bản thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị T do UBND xã G cung cấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân khu vực 3 - N đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng chị Nguyễn Thị T cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, không còn thiện chí để tìm cách đoàn tụ vợ chồng, chứng tỏ quan hệ vợ chồng giữa anh T và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Bùi Đình T.
Về quan hệ con chung: Anh Bùi Đình T và chị Nguyễn Thị T có một con chung cháu là Bùi Đình H, sinh ngày 28/9/2022. Anh T có nguyện vọng được nuôi con chung. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy, anh T và chị T có một con chung cháu Bùi Đình H đã trên ba tuổi, chưa đủ bẩy tuổi; anh T và chị T đều không vi phạm nghĩa vụ làm cha mẹ, đều có việc làm và thu nhập ổn định. Trong thời gian trước đây cháu Bùi Đình H do T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo đảm tốt về mọi mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị T cố tình vắng mặt không có lý do, không có quan điểm về con chung. Vì vậy, cần giao cháu Bùi Đình H cho anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau ly hôn, để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung anh Bùi Đình T không yêu cầu chị Nguyễn Thị T cấp dưỡng nuôi con. Sau này nếu hai bên có tranh chấp về việc nuôi và cấp dưỡng nuôi con chung Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Anh Bùi Đình T không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản chung, công nợ chung. Vì vậy, vấn đề tài sản chung và công nợ chung, Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 §iÒu 147 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Anh Bùi Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu 147; khoản 1, ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227; khoản 1, kho¶n 3 §iÒu 228 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân:
Anh Bùi Đình T và chị Nguyễn Thị T được ly hôn;
2. Về con chung: Giao cho anh Bùi Đình T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Bùi Đình H, sinh ngày 28/9/2022. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 06/03/2026 cho tới khi con chung đủ 18 tuổi, nếu không có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung anh Bùi Đình T không yêu cầu chị Nguyễn Thị T cấp dưỡng nuôi con. Khi nào anh T có yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác. “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây anh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.
3. Về án phí: Anh Bùi Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Được khấu trừ 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh N theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Ký hiệu: BLTU/25E, số 0002588 ngày 04/11/2025.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh N; - VKSND khu vực 3 – N; - THADS tỉnh N; - Các đương sự; - UBND xã G, tỉnh N; - Lưu Hồ sơ, văn phòng; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thiện Thành |