vanban.org

Bản án 16/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vọng Thị T được ly hôn với anh Kha Văn M.

Con chung: Giao con chung của nguyên đơn và bị đơn là cháu Kha Thị Thủy N, sinh ngày 03/4/2016 và cháu Kha Thị Ngọc T1, sinh ngày 02/01/2020 cho chị Vọng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vọng Thị T- Kha Văn M"
  • Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vọng Thị T được ly hôn với anh Kha Văn M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11- NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 24/3/2026
V/v tranh chấp hôn nhân
và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Quang

Ông Cụt Xuân Ninh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11-Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 94/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2026 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 13/2026/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vọng Thị T, sinh năm 1985, CCCD: xxxxxxxxxxxx (Có đơn xét xử vắng mặt).

ĐKTT: Bản Can, xã T, tỉnh Nghệ An.

Chỗ ở hiện nay: Bản Na Loi, xã Na Loi, tỉnh Nghệ An

2. Bị đơn: Anh Kha Văn M, sinh năm 1985, CCCD: xxxxxxxxxxxx (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

Trú tại: Bản C, xã T, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 24/12/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Vọng Thị T trình bày:

- Về tình cảm: Chị Vọng Thị T và anh Kha Văn M tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2013. Chị T và anh M đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Nay là xã T, tỉnh Nghệ An) vào ngày 24 tháng 4 năm 2013 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh vào năm 2021, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau thậm tệ, anh M thường xuyên bạo lực gia đình nhưng bản thân chị T thương con nên cố gắng chịu đựng, do cuộc sống khó khăn nên chị T đi vào Đ để làm việc, anh M ghen tuông vô cớ vào Đ đánh đập chị T thậm tệ nên quyết định giải thoát cho bản thân về sinh sống với ông bà ngoại tại bản N, xã N, tỉnh Nghệ An. Nay tình cảm vợ chồng đã cạn kiệt chị T có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.

- Về con chung: Chị T và anh M có 02 người con chung là cháu Kha Thị Thủy N, sinh ngày 03/4/2016 và cháu Kha Thị Ngọc T1, sinh ngày 02/01/2020 hiện cháu đang sống cùng chị T tại bản Na Loi, xã N, tỉnh Nghệ An. Về con chung chị T cũng đã trao đổi với anh M, anh không đủ điều kiện để nuôi con nên anh đồng ý giao con cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Nên nếu ly hôn đặt ra chị T có nguyện vọng nuôi cháu N, cháu T1 cho đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh M cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hoà giải hợp lệ cho anh Kha Văn M theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh M đều vắng mặt, vụ án không tiến hành hoà giải được do sự vắng mặt của bị đơn anh Kha Văn M. Nguyên đơn chị Vọng Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Kha Văn M nên Toà án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Kết quả xác minh tại UBND xã T, tỉnh Nghệ An thì anh Kha Văn M và chị Vọng Thị T đăng ký thường trú tại bản Can, xã T, tỉnh Nghệ An là vợ chồng, có 02 con chung là cháu Kha Thị Thùy N1, sinh năm 2016 và cháu Kha Thị Ngọc T1, sinh năm 2020 hiện các cháu sống với chị T. Anh M và chị T hiện nay sống ly thân với nhau.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2025 cháu Kha Thị T2 Nhung con chung của chị Vọng Thị T và anh Kha Văn M: Cháu Kha Thị Thủy N có nguyện vọng sống với chị Vọng Thị T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với nguyên đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn chị Vọng Thị T cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân cho chị Vọng Thị T được ly hôn với anh Kha Văn M; Con chung: giao cháu cháu Kha Thị Thủy N, sinh ngày 03/4/2016 và cháu Kha Thị Ngọc T1, sinh ngày 02/01/2020 cho chị Vọng Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh M; Tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng và các lời khai của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh Kha Văn M đăng ký thường trú tại bản C, xã T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Vọng Thị T và bị đơn anh Kha Văn M thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 11- Nghệ An. Bị đơn được triệu tâp hợp lệ lần thứ hai không vì trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Quan hệ hôn nhân: Chị T và anh M kết hôn với nhau vào năm 2013 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An) cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 19/2013 ngày 24 tháng 4 năm 2013 vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Nội dung:

Tình cảm: Chị T và anh M trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do quan điểm sống khác nhau, nên thường xuyên cãi vã nhau, xúc phạm nhau thậm tệ, cuộc sống vợ chồng ngột ngạt, tình cảm vợ chồng rạn nứt và đã sống ly thân với nhau, chị T cũng thừa nhận, chị không còn tình cảm với anh M, không muốn tiếp tục chung sống với anh M và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống, hôn nhân không đạt được mục đích, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị T và anh M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Con chung: Chị T và anh M có 02 con chung là cháu Kha Thị Thủy N, sinh ngày 03/4/2016 và cháu Kha Thị Ngọc T1, sinh ngày 02/01/2020 hiện các cháu đang sống với chị Vọng Thị T tại bản Na Loi, xã N, tỉnh Nghệ An, khi ly hôn chị Vọng Thị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N, cháu T1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Xét thấy, từ khi ly thân vào năm 2021 cháu Kha Thị Thủy N, Kha Thị Ngọc T1 do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, bản thân cháu N cũng có nguyện vọng sống với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Kha Thị Thủy N, cháu Kha Thị Ngọc T1 đã sống ổn định với chị Vọng Thị T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu cháu Kha Thị Thủy N, sinh ngày 03/4/2016 và cháu Kha Thị Ngọc T1, sinh ngày 02/01/2020 cho chị Vọng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu N, cháu T1 đủ 18 tuổi, trưởng thành, chị T không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh M được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

Tài sản chung, nợ chung: Chị Vọng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q;

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vọng Thị T được ly hôn với anh Kha Văn M.

2. Con chung:

+ Giao con chung của nguyên đơn và bị đơn là cháu Kha Thị Thủy N, sinh ngày 03/4/2016 và cháu Kha Thị Ngọc T1, sinh ngày 02/01/2020 cho chị Vọng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.

- Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh M;

- Anh M có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Buộc chị Vọng Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003935 ngày 24/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.

Cỡ chữ