vanban.org

Bản án 16/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của nguyên đơn ông Tạ Quang M đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L.

1/Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Tạ Quang M và bà Nguyễn Thị L được ly hôn. 2/Về án phí: Ông Tạ Quang M phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) ông M đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 00… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông Minh và bà Lan"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của nguyên đơn ông Tạ Quang M đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 09 - 02 - 2026
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Mai Phú;

2.Bà Mai Lương Anh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Quang - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 148/2025/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2026/QĐST - HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Tạ Quang M, sinh năm: 1970 (có mặt).

Địa chỉ: Số 3, đường Thông Thiên Học, phường Xuân Hương - Đà Lạt, tỉnh

Lâm Đồng.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1968 (vắng mặt).

Địa chỉ: Nhà E2, lô E2, chung cư Yersin, phường Lâm Viên - Đà Lạt, tỉnh

Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn ông Tạ Quang M thì: Ông và bà Nguyễn Thị L kết hôn vào năm 1997 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố Đ (nay là phường X), tỉnh L trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới vợ chồng ông chung sống với nhau tại số 4, đường 3 tháng 4, phường 3, thành phố Đ (nay là phường X), tỉnh L. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2012 phát sinh mâu thuẫn, năm 2017 gia đình ông chuyển về sống tại nhà E2, lô E2, chung cư Yersin, phường K, thành phố Đ(nay là phường K), tỉnh L sống chung được một thời gian ngắn thì cuối năm 2017 ông và bà L đã sống ly thân cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không quan tâm lẫn nhau. Nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp với nhau và bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay ông M xác định vợ chồng không còn tình cảm, nên xin được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Giữa ông và bà L có 02 con chung là Tạ Nguyễn Quang V, sinh ngày 06/8/1998 và Tạ Tuấn K, sinh ngày 13/4/2004, hiện các con đã trưởng thành và phát triển bình thường, nên không có yêu cầu gì.

- Về tài sản chung: Hai bên sẽ tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Giữa ông và bà L không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà L để tiến hành tiếp cận chứng cứ và hòa giải nhưng bà L vắng mặt nên việc hòa giải không thành.

Tại phiên tòa, ông M xác định hiện vợ chồng ông đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà L. Về con chung ông M xác định vợ chồng có 02 con chung là Tạ Nguyễn Quang V, sinh ngày 06/8/1998 và Tạ Tuấn K, sinh ngày 13/4/2004, hiện các con đã trưởng thành phát triển bình thường nên không có yêu cầu gì; về tài sản chung hai bên sẽ tự thỏa thuận và về nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên toà sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có mặt tại phiên tòa đã chấp hành đúng nội quy phiên toà, đương sự vắng mặt đã được tống đạt thủ tục đầy đủ đúng quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Tạ Quang M, cho ông M được ly hôn với bà L; về con chung: Các con đã trưởng thành, phát triển bình thường nên không xem xét; về tài sản chung ông M xác định vợ chồng tự thỏa thuận và về nợ chung xác định không có, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Giữa ông Tạ Quang M và bà Nguyễn Thị L kết hôn với nhau vào năm 1997, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, ông M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà L, nên xác định quan hệ tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn bà L hiện cư trú tại phường Lâm Viên - Đà Lạt, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nói trên.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tham gia phiên tòa hôm nay nhưng đều vắng mặt, nên căn cứ theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 cần xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông M và bà L kết hôn với nhau năm 1997 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố Đ (nay là phường X), tỉnh L. Theo trình bày của ông M thì vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp với nhau và bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung; hiện vợ chồng đã sống ly thân. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông M và bà L đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông M, xử cho ông M và bà L được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Ông M xác định vợ chồng có 02 con chung là Tạ Nguyễn Quang V, sinh ngày 06/8/1998 và Tạ Tuấn K, sinh ngày 13/4/2004, hiện các con đã đã trưởng thành phát triển bình thường và không có yêu cầu gì; nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Ông M xác định hai bên sẽ tự thỏa thuận về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ông M xác định không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Tạ Quang M phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của nguyên đơn ông Tạ Quang M đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L.

Xử:

1/Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Tạ Quang M và bà Nguyễn Thị L được ly hôn.

2/Về án phí: Ông Tạ Quang M phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) ông M đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003529 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng, ông M đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (09/02/2026). Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ