vanban.org

Bản án 16/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo La Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo La Trọng T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/6/2025 Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo La Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày 16/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Thuỷ và bà Hoàng Thị Tám.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/HSST, ngày 29 tháng 8 năm 2025; quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

La Trọng T, sinh năm 1996 tại tỉnh Đắk Nông nay là tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn E, xã Đ' L, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nay là thôn E, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Nùng, tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm nông; con ông La Văn V, sinh năm 1975 và con bà Đàm Thị H, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2025. Hiện tạm giam – có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị La Thị D; nơi cư trú: Thôn E, xã Đ' L, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nay là thôn E, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng – có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 02/6/2025, La Trọng T (sinh năm 1996, trú tại thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng) điều khiển xe mô tô biển số 48E1 - 374.39 (xe mượn của La Thị D, sinh năm 2001, là em gái của T) đến khu vực TDP B, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng) gặp đối tượng tên Đ (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma tuý với số tiền 1.000.000 đồng (Thùy chưa trả tiền cho Đ) để về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, La Trọng T bỏ gói ma tuý vào trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu S rồi cất giấu vào trong túi quần bên phải rồi điều khiển xe ra về. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi T về đến khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng) thì bị lực lượng Bộ đội biên phòng Đồn Biên phòng Đ1, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đ phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật (được niêm phong theo quy định của pháp luật). Đồn Biên phòng Đ1 đã khởi tố vụ án hình sự và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (nay là Công an tỉnh L) để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Tại Cơ quan điều tra, La Trọng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Tại Kết luận giám định số 228/KL-KTHS ngày 03/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon dạng gói zipper chỉ đỏ, kích thước 04cm x 06cm, được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 1,1684 gam.

Về vật chứng vụ án: Đối với 1,1339 gam ma túy, là Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu S, bên trong chứa 10 điếu thuốc lá do không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Tại Bản Cáo trạng số 15/CT-VKS(KV8) ngày 29 tháng 8 năm 2025 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng truy tố bị cáo La Trọng T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng truy tố là đúng, không oan.

Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 02/6/2025, tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng), Đồn Biên phòng Đ1 bắt quả tang La Trọng T đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,1684 gam ma tuý, là Methamphetamine mục đích để sử dụng và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (nay là Công an tỉnh L) để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo La Trọng T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo La Trọng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo có ông nội La Văn S được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến nên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo La Trọng T từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H1) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/6/2025

Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46; Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 1,1339 gam ma túy, là Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu S, bên trong chứa 10 điếu thuốc lá do không còn giá trị sử dụng

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu trắng, biển số 48E1 - 374.39 cho chị La Thị D là chủ sở hữu hợp pháp và trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 670164008745; 01 giấy phép lái xe hạng C, số 670220018978; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, đã qua sử dụng, gắn sim số 0395.248.348 và 01 căn cước công dân số 067096002134 mang tên La Trọng T cho bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Phần tranh luận bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì và bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 12 giờ ngày 02/6/2025, La Trọng T điều khiển xe mô tô biển số 48E1 - 374.39 đến khu vực TDP B, TT. Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng gặp đối tượng tên Đ (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma tuý với số tiền 1.000.000 đồng (Thùy chưa trả tiền cho Đ) để về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, La Trọng T bỏ gói ma tuý vào trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu S rồi cất giấu vào trong túi quần bên phải rồi điều khiển xe ra về. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi T về đến khu vực thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là xã T, tỉnh Lâm Đồng) thì bị lực lượng Bộ đội biên phòng Đồn Biên phòng Đ1, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đ phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật

* Tại Kết luận giám định số 228/KL-KTHS ngày 03/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon dạng gói zipper chỉ đỏ, kích thước 04cm x 06cm, được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 1,1684 gam.

Hành vi của bị cáo La Trọng T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) .........

c) Heroine, C, Methamphetamine …. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Xét hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách về quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, HĐXX xét thấy để đảm bảo việc giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi mà bị cáo gây ra. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong khoảng thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không

* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội là La Văn S được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Nên HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Đối với đối tượng tên Đ (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là đối tượng đã bán ma tuý cho bị can, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với chị La Thị D do không biết bị cáo sử dụng xe mô tô biển số 48E1 - 374.39 của mình vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Đối với 1,1339 gam ma túy, là Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu S, bên trong chứa 10 điếu thuốc lá do không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu trắng, biển số 48E1 - 374.39 cho chị La Thị D là chủ sở hữu hợp pháp và trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 670164008745; 01 giấy phép lái xe hạng C, số 670220018978; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, đã qua sử dụng, gắn sim số 0395.248.348 và 01 căn cước công dân số 067096002134 mang tên La Trọng T cho bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người đi làm thuê, không có nguồn thu nhập ổn định, bị cáo không có tài sản riêng nên HĐXX không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo La Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo La Trọng T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/6/2025

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 1,1339 gam ma túy, là Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu S, bên trong chứa 10 điếu thuốc lá do không còn giá trị sử dụng.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Buộc bị cáo La Trọng T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ