vanban.org

Bản án 16/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tạm giam bị cáo: Đoàn Văn Thành, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1978.

Trú tại: thôn Phú Thị, xã Chi Thiết, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Nghề nghiệp: Lao động tự do Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tạm giam bị cáo: Đoàn Văn Thành, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1978.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HSST
Ngày 28/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Vân.

Bà Nguyễn Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường UBND xã Tân Lập, huyện Sông Lô. Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử lưu động công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/HSST ngày 11/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 17/3/2025 đối với bị cáo:

Đoàn Văn T, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1978; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: thôn Phú Thị, xã Chi Thiết, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Minh N, sinh năm 1957 và con bà Lê Thị D, sinh năm 1957; Vợ Dương Thị T, sinh năm 1979. Có 03 con lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80/QĐ-XPHC ngày 14/02/2012, Phòng cảnh sát hình sự công an tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 14/02/2012 bị cáo đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại phân trại tạm giam Sông Lô, trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

Chị Dương Thị T, sinh năm 1979, (có mặt).

Trú tại: thôn P, xã Chi Thiết, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghiện chất ma tuý nhiều năm, hàng ngày T đều sử dụng ma túy nên khoảng 12 giờ 00 phút ngày 21/01/2025, Thành đang ở nhà một mình thì lên cơn thèm chất ma túy. T một mình điều khiển xe máy BKS 22B1-756.04 đi từ nhà mình xuống khu vực xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy để sử dụng. T đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn Yên Thiết, xã Quang Yên thì gặp 01 người đàn ông và hỏi “Có hàng không bán cho cái ba trăm?” Ý của T hỏi có ma túy không bán cho gói 300.000đ. Người đàn ông này nói “Đưa tiền đây” thì T đưa cho người này 300.000đ (01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ). Người này cầm tiền và đưa lại cho T 01 gói nhỏ, T xác định đó là ma túy và cầm trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khi vừa đi được một đoạn thì T bị lực lượng công an huyện Sông Lô nghi vấn, yêu cầu kiểm tra, phát hiện tại lòng bàn tay phải của T đang cầm 01 gói nhỏ, T tự khai nhận đó là ma túy vừa mua được, chưa kịp sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong 01 gói nhỏ bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng trong phong bì kí hiệu A1 và thu giữ các vật chứng, tài sản khác theo đúng quy định.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định trưng cầu giám định số: 52. Trưng cầu Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma túy đối với mẫu A1, có phải là chất ma túy không? Loại ma túy gì? Trọng lượng (Khối lượng) của mẫu gửi giám định là bao nhiêu? thu giữ được của Đoàn Văn T. Ngày 24/01/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số 290/KLGĐ kết luận: Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1757g loại heroine.

Về nguồn gốc số ma túy, T khai nhận mua được của một người đàn ông ở xã Quang Yên không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không xác định được con người cụ thể. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý theo pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 15/CT - VKSSL ngày 10/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Đoàn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thành không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại khu vực thôn Yên Thiết, xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Sông Lô phát hiện bắt quả tang bị cáo đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Heroine có trọng lượng 0,1757gam, mục đích sử dụng cho bản thân và thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lời khai và bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Do đó bản cáo trạng số: 15/CT - VKSSL ngày 10/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Đoàn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không bị oan.

Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, an ninh ở địa phương nhất là trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước có những chủ trương, biện pháp đấu tranh không khoan nhượng đối với các loại tội phạm về ma tuý nhưng trên địa bàn huyện Sông Lô nói chung tội phạm về ma tuý diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng, nó cũng là mầm mống nảy sinh những tội phạm khác như: Trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản......Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và dăn đe những kẻ khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu đã xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc đã chấp hành xong nhưng không lấy đó làm bài học mà lại lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, luôn có ý thức chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo xác nhận là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu trả vụ số 218/2025 do phòng Kỹ thuật hình sự hoàn trả lại sau giám định, được niêm phong kín trong cùng bao gói giấy niêm phong.

Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave, sơn màu vàng-đen, gắn BKS 22B1 – 756.04, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Dương Thị T. Ngày 21/01/2025, chị T đi làm, không biết T sử dụng xe đi mua ma túy và Thành không cất giấu ma túy trên xe nên cần xem xét trả lại cho chị T đúng chủ sở hữu là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2/ Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt: Đoàn Văn T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21 tháng 01 năm 2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo T để đảm bảo Thi hành án.

3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu trả vụ số 218/2025 do phòng Kỹ thuật hình sự hoàn trả lại sau giám định, được niêm phong kín trong cùng bao gói giấy niêm phong.

Trả lại chị Dương Thị T 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave, sơn màu vàng-đen, gắn BKS 22B1 – 756.04, số máy JA31E-0192587; số khung RLHJA-3112EY102290, có 01 gương chiếu hậu bên trái, yếm xe bên phải bị vỡ, không kiểm tra chất lượng bên trong xe, trong cốp xe không có đồ vật tài sản gì, xe cũ, đã qua sử dụng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đoàn Văn Thành phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Án xử công khai: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND huyện Sông Lô;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; -TAND tỉnh Vĩnh Phúc; -Chi cục THA dân sự huyện Sông Lô; -Công an tỉnh Vĩnh Phúc;

- Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Vĩnh Phúc;

- Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;

Nguyễn Kiên Thành -Phân trại tạm giam khu vực Sông Lô; -UBND xã Chi Thiết; -Bị cáo; Người có QLNV liên quan; -Lưu hs; Vp.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào 09 hồi giờ 45 phút ngày 28 tháng 3 năm 2025.

Tại: Phòng nghị án UBND xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Vân Vị và bà Nguyễn Thị Hồng.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Đoàn Văn Thành, sinh năm 1978.

Trú tại: thôn Phú Thị, xã Chi Thiết, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1/ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

2/ Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

3/ Về tội danh và Điều luật áp dụng: có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Đoàn Văn Thành phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

4/ Về hình phạt: Phạt Đoàn Văn Thành 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21 tháng 01 năm 2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo Thành để đảm bảo thi hành án. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

5/ Về xử lý vật chứng và án phí hình sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu trả vụ số 218/2025 do phòng Kỹ thuật hình sự hoàn trả lại sau giám định, được niêm phong kín trong cùng bao gói giấy niêm phong.

Trả lại chị Dương Thị Thu 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave, sơn màu vàng-đen, gắn BKS 22B1 – 756.04, số máy JA31E-0192587; số khung RLHJA-3112EY102290, có 01 gương chiếu hậu bên trái, yếm xe bên phải bị vỡ, không kiểm tra chất lượng bên trong xe, trong cốp xe không có đồ vật tài sản gì, xe cũ, đã qua sử dụng (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đoàn Văn Thành phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

6/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Sông Lô trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

7/ Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 28 tháng 3 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Vân Nguyễn Thị Hồng

Nguyễn Kiên Thành

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

Sông Lô ngày 28 tháng 3 năm 2025 Số: 09/2025/HSST-QĐTG

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Vân và bà Nguyễn Thị Hồng.

Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 28/3/2025 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc Thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tạm giam bị cáo: Đoàn Văn Thành, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1978.

Trú tại: thôn Phú Thị, xã Chi Thiết, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21 tháng 01 năm 2025.

Thời hạn tạm giam là: 45 (Bốn mươi năm) ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 28/3/2025.

2/ Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm Thi hành quyết định này.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ