- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nguyên Khoa phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 16-01-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Bích Ân.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thông;
- Bà Trần Thị Đông.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hiệp - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 176/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Nguyên K; giới tính: nam; tên gọi khác: không có; sinh ngày 06/5/1999, tại: thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: thợ chụp hình; Trình độ học vấn: 10/12; Nơi ĐKHKTT: Khối phố 2, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện tại: 265/53 Trần Cao Vân, Khối phố 4, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Con ông: Lê Ngọc S (chết) và bà Nguyễn Thị Thanh T(sinh năm 1967; gia đình có 03 người con, bị cáo là con út; vợ là Võ Thị Thúy V; Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024, chuyển tạm giam ngày 05/9/2024. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Phan Trần Khánh D, sinh năm 1993; địa chỉ: Khối phố 1, phường Phước Hoà, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Lê Văn D, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn Bích Trung, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Huỳnh Văn M, sinh năm 1987; địa chỉ: Khối phố 4, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 16 giờ ngày 27/8/2024, Tổ công tác đội CSĐTTP về kinh tế- ma túy Công an thành phố Tam Kỳ phối hợp với Công an phường An Sơn đến quán cà phê Chill địa chỉ 429/39 Hùng vương thuộc khối phố 4, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ do ông Huỳnh Văn M làm chủ để xác M thông tin nghi vấn liên quan đến hoạt động phạm tội về ma túy. Khi tổ công tác đến nơi thì trong quán cà phê Chill có 03 nam thanh niên (một người đứng ở gần cổng ra vào, một người nằm trên võng, 01 người ở phòng kho bên cạnh phòng vệ sinh). Khi thấy tổ công tác, nam thanh niên đứng gần cổng và nam thanh niên nằm trên võng đứng lại làm việc, còn nam thanh niên ở phòng kho bỏ chạy ra ngoài đường Kiệt 429 Hùng Vương thì bị tổ công tác đuổi theo giữ lại. Làm việc với tổ công tác, nam thanh niên bỏ chạy khai tên là Lê Nguyên K, nam thanh niên nằm trên võng khai tên là Phan Trần Khánh D, nam thanh niên đứng gần cổng ra vào khai tên là Lê Văn D.
Qua làm việc, Lê Nguyên K khai vừa bán 01 gói ma tuý loại cần sa cho Phan Trần Khánh D với giá 100.000đ nhưng chưa lấy tiền. Khi K vừa đi vào phòng kho tiếp tục phân chia cần sa để bán cho người khác thì nghe lực lượng Công an đến làm việc, K bỏ chạy ra ngoài đường trốn thoát thì bị giữ lại. Sau đó, K dẫn lực lượng Công an đến phòng kho và bàn gỗ tại quán cà phê Chill tự nguyện giao nộp các gói cần sa mà K đang phân chia và cất giữ để bán cho người khác. Cụ thể: tại nền phòng kho có 01 bao ni lông (loại có đai xách) và 03 túi ni lông (loại túi zip) bên trong có cành, lá, hoa, quả thực vật khô; bên cạnh các bao, túi ni lông chứa cành, lá, hoa, quả thực vật khô nêu trên có 01 cân tiểu ly điện tử; 17 túi ni lông (loại túi zip). Tại tầng dưới của bàn gỗ có 06 túi ni lông (loại túi zip - cùng loại với các túi ở phòng kho), trong các túi này có cành, lá, hoa, quả thực vật khô. K trình bày đây là ma túy cần sa của K phân chia, cất giấu để bán cho người khác.
Khi làm việc với Phan Trần Khánh D, tổ công tác phát hiện trong túi áo khoác bên trái của D để trên võng đang nằm có 01 túi ni lông (loại túi zip) bên trong có cành, lá, hoa, quả thực vật khô. D trình bày đây là gói ma tuý cần sa vừa mua của Lê Nguyên K với giá 100.000đ, D cất trong túi áo khoác chưa sử dụng.
Qua điều tra xác định:
Vào giữa tháng 8/2024, Lê Nguyên K sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus gắn sim 0766258220 lên mạng xã hội Telegram với tài khoản của mình tên “Huỳnh Phương” tìm người bán cần sa thì gặp một người sử dụng tài khoản Telegram tên "Sativa" giới thiệu có bán cần sa. K liên hệ hỏi mua 01 gói cần sa giá 2.000.000đ thì người này đồng ý, yêu cầu K chuyển tiền trước và cung cấp địa chỉ nhận hàng. Sau đó, K đến một cửa hàng bán điện thoại trên đường Phan Chu Trinh, thành phố Tam Kỳ chuyển tiền, người bán đọc số tài khoản và K đưa tiền mặt cho nhân viên nhờ họ chuyển giúp, K trả phí chuyển tiền. Sau khi chuyển tiền, K cung cấp địa chỉ nhận hàng là Khối phố 4, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ kèm theo số điện thoại của K cho tài khoản Telegram tên “Sativa” nêu trên để gửi hàng. Khoảng 03 ngày sau, có một shipper đến giao cho K 01 gói hàng là 01 hộp giấy dán kín (dạng bưu phẩm). K đem hộp giấy về phòng trọ của mình ở Số 265/53 Trần Cao Vân, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ mở ra thấy bên trong có 01 gói cần sa (dạng cành, lá, hoa, quả thực vật khô). Tại đây, K lấy ra một ít cần sa, chia ra thành 09 gói nhỏ (loại túi zip) để sử dụng và để bán cho người khác kiếm lời. Trong thời gian trên, K lấy sử dụng hết 01 gói bằng cách đốt lên hút. Đến ngày 24/8/2024, K đến quán cà phê Chill uống cà phê và có mang theo cần sa. Tại đây, Lê Văn D hỏi mua cần sa của K để sử dụng và K đã bán cho D 01 gói cần sa với giá 100.000 đồng, D đem về sử dụng một mình hết.
Đến chiều ngày 27/8/2024, K còn lại 07 gói cần sa nhỏ (loại túi zip), 01 gói cần sa lớn (loại có đai xách). K đem toàn bộ số cần sa trên cùng bao ni lông, cân tiểu ly điện tử đến quán cà phê Chill để uống cà phê và có ai hỏi mua cần sa thì bán. Tại quán cà phê Chill, K cất số cần sa trên dưới bàn gỗ nơi K ngồi uống cà phê. Trong lúc ở quán cà phê, có Phan Trần Khánh D đang nằm trên võng bên chỗ K ngồi hỏi mua của K 01 gói cần sa với giá 100.000đ, K bán cho Khánh D 01 gói nhưng chưa lấy tiền. Khánh D đem gói cần sa cất vào túi áo khoác bên trái của D để trên võng đang nằm. Sau khi bán cần sa cho Khánh D, K đem gói cần sa lớn (loại có đai xách), bao ni lông và cân tiểu ly điện tử ra phòng kho của quán cà phê Chill tiếp tục phân chia ra nhiều gói nhỏ. Khi K vừa phân chia ra được 03 gói nhỏ (loại túi zip) thì nghe có lực lượng Công an đến. K hoảng sợ bỏ chạy ra ngoài đường thì bị lực lượng Công an đuổi theo giữ lại. Qua làm việc, K thừa nhận vừa bán ma túy cho Phan Trần Khánh D, K dẫn lực lượng Công an đến phòng kho và bàn gỗ tại quán cà phê Chill tự nguyện giao nộp các gói cần sa mà K đang phân chia và cất giữ để bán cho người khác như trình bày ở trên.
Kết quả thử phát hiện sử dụng ma túy vào ngày 27/8/2024 của Lê Nguyên K, Lê Văn D, Phan Trần Khánh D xác định có dương tính với chất ma túy loại cần sa.
Theo Kết luận giám định số 460/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: Trong các mẫu thực vật khô (dạng cành, lá, hoa, quả) gửi giám định có thành phần chất ma túy loại Delta-9-tetrahydrocanabinol (Delta-9-THC).
+ Mẫu ký hiệu A1 trong 06 túi ni lông (loại túi zip) thu giữ ở tầng dưới của bàn gỗ có khối lượng là 8,628g (tám phẩy sáu trăm hai mươi tám gam).
+ Mẫu ký hiệu A2 trong 03 túi ni lông (loại túi zip) thu giữ ở phòng kho có khối lượng là 4,309g (bốn phẩy ba trăm lẻ chín gam).
+ Mẫu ký hiệu A3 trong 01 bao ni lông (loại có đai xách) thu giữ ở phòng kho có khối lượng là 32,338g (ba mươi hai phẩy ba trăm ba mươi tám gam).
+ Mẫu ký hiệu A4 trong 01 túi ni lông (loại túi zip) thu giữ trong túi áo khoác bên trái của Phan Trần Khánh D có khối lượng là 1,632g (một phẩy sáu trăm ba mươi hai gam).
Delta-9-tetrahydrocanabinol là chất ma túy có số thứ tự 4 mục IB, Danh mục I trong phụ lục ban hành theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSTK-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ đã truy tố bị cáo Lê Nguyên K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Nguyên K với mức án từ 7 (bảy) năm đến 7 (năm) 6 (sáu) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:
- Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói mẫu vật sau giám định, được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS2 23019194; 01 cân tiểu ly điện tử; 17 túi ni lông loại túi zip; sim số 0766258220.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus, vỏ màu đỏ, gắn sim số 0766258220 của Lê Nguyên K; số tiền 100.000 đồng của Phan Trần Khánh D.
- Truy thu của Lê Nguyên K số tiền 100.000 đồng thu được từ việc bán ma túy cho Lê Văn D.
* Những vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Nguyên K, Phan Trần Khánh D, Lê Văn D đã vi phạm vào khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng chống bạo lực gia đình.
Đối với Phan Trần Khánh D có hành vi cất giữ cành, lá, hoa, quả thực vật khô có thành phần chất ma túy loại Delta-9-tetrahydrocanabinol có khối lượng 1,632 gam. Đây là ma túy D mua của Lê Nguyên K vào ngày 27/8/2024 với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bản thân D chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa bị kết án về tội này và một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy hành vi này của D không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi này của D đã vi phạm điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Đối với ông Huỳnh Văn M- chủ quán cà phê Chill. Qua điều tra, xác định ông M không biết, không để ý đến việc K mua bán ma tuý tại quán cà phê. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý đối với ông M. Tuy nhiên, việc ông M để xảy ra hoạt động tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy trong khu vực mình quản lý đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
* Tất cả những hành vi vi phạm nêu trên của Lê Nguyên K, Phan Trần Khánh D, Lê Văn D, Huỳnh Văn M, Cơ quan điều tra đã chuyển cho Công an thành phố Tam Kỳ đề xuất Chủ tịch UBND thành phố Tam Kỳ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với người có tài khoản Telegram tên “Sativa” đã bán ma túy cho Lê Nguyên K: Qua điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Do vậy, không có cơ sở để xử lý đối với người đã có hành vi bán ma tuý cho Lê Nguyên K.
Đối với việc Phan Trần Khánh D khai do trước đó vào chiều ngày 26/8/2024, D có mua của một người đàn ông không rõ lai lịch ở khu vực đường Bạch Đằng, thành phố Tam Kỳ 01 gói cần sa giá 50.000 đồng và D đã sử dụng hết. Tuy nhiên, D không biết nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh xử lý.
Đối với Võ Thị Thúy V là vợ của Lê Nguyên K, ở chung phòng trọ với K và các con. Tuy nhiên, V hằng ngày đi làm không có ở nhà, việc K mang ma túy về nhà và phân chia thành các gói nhỏ để bán, Vi không thấy, không biết nên không có cơ sở để xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Tại phiên toà, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 16 giờ ngày 27/8/2024, tại quán cà phê Chill thuộc Khối phố 4, phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ, Tổ công tác đội CSĐTTP về kinh tế- ma túy Công an thành phố Tam Kỳ phối hợp với Công an phường An Sơn bắt quả tang Lê Nguyên K có hành vi tàng trữ cành, lá, hoa, quả thực vật khô có thành phần chất ma túy loại Delta-9-tetrahydrocanabinol có tổng khối lượng 45,275 gam (đây là các hoạt chất chính có trong cây Cần sa) với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác để kiếm lời. Trong đó, ngày 24/8/2024, bán cho Lê Văn D 01 gói cần sa với giá 100.000 đồng; ngày 27/8/2024, bán cho Phan Trần Khánh D 01 gói cần sa với giá 100.000 đồng.
Hành vi trên của bị cáo Lê Nguyên K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội, gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bị cáo có đủ nhận thức để biết được tác hại của ma túy và những quy định cấm của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy nhưng bị cáo cố ý thực hiện. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ không có việc làm và đang nuôi hai con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 cân tiểu ly điện tử và 17 túi ni lông loại túi zip. Đây là dụng cụ Lê Nguyên K dùng để phân chia ma túy để bán nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus, vỏ màu đỏ, gắn sim số 0766258220. Đây là điện thoại Lê Nguyên K sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 100.000 đồng Phan Trần Khánh D giao nộp cho cơ quan điều tra, đây là tiền D mua 01 gói ma túy của Lê Nguyên K nhưng chưa đưa tiền. Do vậy, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Hiện Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Nam.
- Đối với số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói mẫu vật sau giám định, được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS2 23019194; 01 sim điện thoại số 0766258220 cần tịch thu tiêu huỷ.
- Truy thu của Lê Nguyên K số tiền 100.000 đồng có được từ việc bán ma túy cho Lê Văn D.
. Những vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Nguyên K, Phan Trần Khánh D, Lê Văn D đã bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Tam Kỳ ra quyết định xử phạt vi phạm hành theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng chống bạo lực gia đình là phù hợp.
Đối với Phan Trần Khánh D có hành vi cất giữ cành, lá, hoa, quả thực vật khô có thành phần chất ma túy loại Delta-9-tetrahydrocanabinol có khối lượng 1,632 gam. Đây là ma túy D mua của Lê Nguyên K vào ngày 27/8/2024 với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bản thân D chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa bị kết án về tội này và một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy hành vi này của D không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, đã bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
Đối với ông Huỳnh Văn M- chủ quán cà phê Chill: Qua điều tra, xác định ông M không biết, không để ý đến việc K mua bán ma tuý tại quán cà phê. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý đối với ông M. Tuy nhiên, việc ông M để xảy ra hoạt động tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy trong khu vực mình quản lý nên đã bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
Đối với người có tài khoản Telegram tên “Sativa” đã bán ma túy cho Lê Nguyên K: Qua điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Do vậy, không có cơ sở để xử lý đối với người đã có hành vi bán ma tuý cho Lê Nguyên K.
Đối với việc Phan Trần Khánh D khai do trước đó vào chiều ngày 26/8/2024, D có mua của một người đàn ông không rõ lai lịch ở khu vực đường Bạch Đằng, thành phố Tam Kỳ 01 gói cần sa giá 50.000 đồng và D đã sử dụng hết. Tuy nhiên, D không biết nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác M xử lý.
Đối với Võ Thị Thúy V là vợ của Lê Nguyên K, ở chung phòng trọ với K và các con. Tuy nhiên, V hằng ngày đi làm không có ở nhà, việc K mang ma túy về nhà và phân chia thành các gói nhỏ để bán, V không thấy, không biết nên không có cơ sở để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38
Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[1]. Tuyên bố bị cáo Lê Nguyên K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma
tuý”.
Xử phạt bị cáo Lê Nguyên K 7 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/8/2024)
[2]. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói mẫu
vật sau giám định, được niêm phong trong 01 túi niêm phong mã số: PS2 23019194; 01 cân tiểu ly điện tử; 17 túi ni lông loại túi zip; 01 sim điện thoại số 0766258220.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus, vỏ màu đỏ, gắn sim số 0766258220 của Lê Nguyên K.
(Vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Phan Trần Khánh D số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng)
(Số tiền này hiện Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Nam theo giấy nộp tiền ngày 21/11/2024)
- Truy thu sung quỹ Nhà nước của Lê Nguyên K số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) thu được từ việc bán ma túy cho Lê Văn D.
[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Nguyên K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16-01-2025). Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Nam (PV06); - VKSND thành phố Tam Kỳ; - Chi cục THADS TP. Tam Kỳ; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Tam Kỳ; - Bị cáo, người TGTT khác; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bích Ân THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |