- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 07 (bẩy) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2025/HS-ST. Ngày 06-02-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Chương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 09/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 24/01/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh năm 1987 tại Nghệ An; nơi ĐKTT, chỗ ở: Thôn Y, xã V, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị O; có vợ là Ngô Thị L, sinh năm 1993 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Ngày 06/11/2009, Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/7/2022, Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thuộc trường hợp tái phạm, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2024; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 25/10/2024, tạm giam từ ngày 31/10/2024 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1984; trú tại: Thôn Y, xã V, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1983; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 24/10/2024, Nguyễn Hữu T cùng với bạn ở chung phòng trọ là Nguyễn Đình Đ từ phòng trọ đi bộ ra khu vực thị trấn Đồng Văn, thị xã Duy Tiên rồi vào uống nước tại quán nước ven đường. Tại đây, T và Đ gặp bạn của Đ là một người đàn ông khoảng 35 tuổi (T không rõ nhân thân, lai lịch). Trong lúc nói chuyện, Đ rủ T và bạn của Đ đi mua ma túy để cùng sử dụng. T nói: “Tao không có tiền” thì Đ nói: “Tao có ba trăm mua hàng đây rồi” nên T và bạn của Đ đồng ý. Sau đó Đ, T và người đàn ông bạn của Đ điều khiển xe môtô đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến gầm cầu Phú Thứ thuộc thôn Phú Thứ, xã Tiên Hiệp, thành phố Phủ Lý thì cả ba người dừng lại. Người đàn ông bạn Đ nói với Đ và T: “Đưa tiền và lấy hàng” đồng thời chỉ tay về phía một người đàn ông đang đứng ở gầm cầu gần đó. T và Đ đi đến gặp người đàn ông, Đ lấy ra số tiền 300.000đồng đưa cho người đàn ông, người này cầm tiền của Đ rồi đưa lại cho T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Biết trong vỏ bao thuốc lá có ma túy nên T cầm lấy, giữ trong lòng bàn tay trái rồi cùng Đ và người đàn ông bạn của Đ đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi được một đoạn, người đàn ông bạn của Đ nói với T: “Kiểm tra xem có hàng không?” nên cả ba người cùng dừng lại. Trong lúc T mở vỏ bao thuốc lá ra xem bên trong có ma túy hay không thì bị lực lượng Công an xã Tiên Hiệp, thành phố Phủ Lý đi đến yêu cầu kiểm tra. Thấy có lực lượng Công an đến, Đ và người đàn ông bạn Đ phóng xe môtô bỏ chạy thoát. Tại chỗ, T tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, kiểm tra bên trong thấy có 01 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai nhận đó là gói ma túy cất giấu mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật theo quy định pháp luật.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng, trong gói giấy bạc màu trắng có chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01 và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Tại bản Kết luận giám định số 862/KL-KTHS ngày 30/10/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam đã kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,167 gam, loại Heroine”.
Bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-PL ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Hữu T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 38, 47 và 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ tài liệu, chứng cứ xác minh và lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng, lý lịch tư pháp của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Hữu T là người đã bị kết án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “tái phạm” và chưa được xóa án tích. Khoảng 22 giờ ngày 24/10/2024, tại khu vực thôn Phú Thứ, xã Tiên Hiệp (nay là phường Tân Hiệp), thành phố Phủ Lý, Nguyễn Hữu T bị lực lượng Công an xã Tiên Hiệp, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,167 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thuộc trường hợp“tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 và điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhân thân xấu do đã bị kết án phạt tù về các tội: “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đều chưa được xóa án tích).
4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện; gia đình thuộc diện hộ nghèo tại địa phương nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo là người đã bị kết án về tội phạm ma túy nhưng không chịu lấy đó làm bài học cảnh tỉnh để cải tạo, tu dưỡng bản thân, sống có ích mà vẫn tiếp tục phạm tội mới do cố ý, thể hiện bản chất luôn coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo mới chấp hành xong án phạt tù, không có nghề nghiệp, thu nhập, tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.
Về tình tiết khác của vụ án:
6.1. Đối với Nguyễn Đình Đ trú tại thôn Y, xã V, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An theo bị cáo khai là người đã khởi xướng việc đi mua ma túy để sử dụng và trực tiếp bỏ tiền ra để mua ma túy, quá trình điều tra do xác định Nguyễn Đình Đ không có mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan điều tra đã quyết định tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
6.2. Đối với người đàn ông bạn của Đ theo bị cáo khai là người đã cùng đi mua ma túy với Đ và bị cáo, quá trình điều tra do không xác định được đặc điểm nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ để xem xét, xử lý trong vụ án là có cơ sở.
6.3. Đối với người đàn ông gặp ở khu vực gầm cầu Phú Thứ, xã Tiên Hiệp, thành phố Phủ Lý theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo để cất giấu, do Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an khu vực tiến hành xác minh để làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có đủ cơ sở để xem xét, xử lý trong vụ án theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Đối với toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/10/2024.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong số 862/KTHS, mặt trước phong bì ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau phong bì có chữ ký và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam và 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 09/01/2025.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Phủ Lý; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Người có QL, NVLQ đến vụ án; - Bị cáo Nguyễn Hữu T; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |