vanban.org

Bản án 16/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 28/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Tr 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 09 tháng 11 năm 2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh Tr phạm tội "mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 52 Bộ luật Hình sự Tuyên bố
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày 28-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Hồ Điệp

Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Mạnh Hùng

Bà Nguyễn Thị Luyến

Bà Lương Thị Kim Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 327/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 376/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Hoàng Minh Tr, sinh năm 1974 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Số 12 Đ21, phường Đồng Quốc Bình, Quận Ngô Quyền (nay là Số 12 Đ21, phường Gia Viên), Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Phòng 2227 T22 Chung cư HH4, phường Đồng Quốc Bình, Quận Ngô Quyền (nay là 2227 T22 Chung cư HH4, phường Gia Viên), thành phố Hải Phòng; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Xuân Đức (đã chết) và bà Hồ Thị Bưởi; có vợ là Phạm Thị Thu Oanh (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Bản án số 248/HSST ngày 08 tháng 9 năm 1994, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” (chưa xóa án tích); Bản án số 39/2013/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2013, Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử phạt 13 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy “(chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 15/HSST ngày 06 tháng 4 năm 1991, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản xã hội chủ nghĩa” (đã xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 09 tháng 11 năm 2024 đến ngày 18 tháng 11 năm 2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch tổng rà soát đối với người sử dụng chất ma túy trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng (nay là phường Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng), ngày 09 tháng 11 năm 2024 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Ngô Quyền phối hợp với Công an phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền tiến hành xét nghiệm thử phản ứng với chất ma túy đối với Hoàng Minh Tr, kết quả: nước tiểu của Tr dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Tr khai nhận đã sử dụng ma túy đá và giao nộp cho Cơ quan điều tra 02 điện thoại di động (gồm 01 điện thoại Iphone 13 màu xanh và 01 điện thoại Masstel màu đỏ đen).

Thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Minh Tr tại: Phòng 2227 T22 Chung cư HH4, phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền (nay là phường Gia Viên), thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ:

Trong phòng ngủ của Hoàng Minh Tr: Tại bồn rửa mặt trong nhà vệ sinh có 01 túi nilon kích thước khoảng 08x12 cm, bên trong có 07 túi nilon kích thước mỗi túi khoảng 03x05 cm đều có tinh thể màu trắng (mẫu KX1).

Tại gầm bàn dưới kệ tivi: 01 hộp giấy kích thước khoảng 04x10x18 cm trong có 01 túi nilon kích thước khoảng 08x12 cm trong có tinh thể màu trắng (mẫu KX2); 01 hộp giấy kích thước khoảng 05x06x10 cm trong có 01 ống nhựa trắng dài khoảng 10cm, 01 ống nhựa dài khoảng 07 cm 01 đầu cắt vát, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng.

Tại giá treo quần áo cạnh cửa phòng ngủ: 01 áo khoác màu trắng đen trong có 01 túi nilon kích thước khoảng 05x07cm có tinh thể màu trắng (mẫu KX3).

Kết luận giám định số 1285/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu KX1 có khối lượng 37,25 gam là Natri clorua (muối ăn); tinh thể màu trắng của mẫu KX2 có khối lượng 49,77 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng của mẫu KX3 có khối lượng 0,40 gam là ma túy, loại Ketamine.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Minh Tr khai nhận: Do mới chấp hành án phạt tù về địa phương, không có công việc và thu nhập ổn định nên khoảng tháng 9 năm 2024 Tr nảy ý định mua ma túy để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng cuối tháng 10 năm 2024 Tr liên hệ với đối tượng tên Hưng ở thành phố Hà Nội (do có thời gian cùng chấp hành án phạt tù, nhưng không biết cụ thể lai lịch và địa chỉ nơi ở của Hưng) mua 100 gam ma túy đá với giá 50.000.000 đồng, giao dịch tại khuôn viên sau chung cư Hoàng Huy, phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền (nay là phường Gia Viên) thành phố Hải Phòng, thanh toán bằng tiền mặt, Hưng cho thêm Tr một ít Ketamine. Tr mang ma tuý về sử dụng một ít, còn lại cất giấu trong phòng ngủ và dự định bán ma túy đá giá 700.000 đồng/01 gam, Ketamine bán với giá 500.000 đồng.

Số ma tuý mua của Hưng, Tr đã bán cho nhiều người gồm:

Trưa ngày 01 tháng 11 năm 2024 tại nhà Phạm Văn Loát, sinh năm 1970, ở xã Quốc Tuấn, huyện An Lão (nay là xã An Quang), thành phố Hải Phòng, Tr bán cho Loát 40 gam ma túy đá với giá 22.000.000 đồng, Loát đã trả Tr 13.000.000 đồng (tiền mặt), đến ngày 02 tháng 11 năm 2024, Loát đưa cho Đỗ Văn Như sinh năm 1990 ở cùng xã số tiền 9.000.000 đồng nhờ chuyển khoản 9.000.000 đồng đến tài khoản 0908966136 mở tại Ngân hàng MBbank của Tr. Như đến cửa hàng bán điện thoại cũ của anh Nguyễn Minh Việt Khánh, sinh năm 1996 ở thôn Hoàng Xá, xã An Lão (nay là xã An Lão), thành phố Hải Phòng nhờ anh Khánh chuyển khoản 9.000.000 đồng vào tài khoản của Tr, rồi đưa tiền mặt trả cho anh Khánh.

Khoảng 22 giờ ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại nhà Nguyễn Thị Lừng ở phòng 301, số 188 Hai Bà Trưng, An Biên, Lê Chân (nay là phường An Biên), thành phố Hải Phòng), Tr bán cho Lừng 25 gam ma túy đá với giá 15.000.000 đồng, Lừng chuyển khoản vào tài khoản của Tr trả tiền mua ma túy, Tr để ma túy lên bàn uống nước rồi đi về, Lừng chưa kịp bán thì bị Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét nơi ở của Lừng.

Việc quản lý, thu giữ, xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định, 03 điện thoại di động và các đồ vật thu giữ trong quá trình điều tra, chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng để xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKS-P1 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Hoàng Minh Tr phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Lời khai của bị cáo Hoàng Minh Tr tại phiên toà phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, với biên bản bắt người phạm tội quả tang, nội dung bản Cáo trạng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Phần tranh luận: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Minh Tr như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, khoản 6 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Minh Tr.

Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Tr từ 20 năm tù.

Phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Minh Tr từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; các vật chứng khác đã sử dụng vào việc phạm tội. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động Masstel của bị cáo đã sử dụng vào phạm tội. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Nokia không sử dụng vào việc phạm tội.

Bị cáo Hoàng Minh Tr tranh luận: Đồng ý với luận tội của Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt; đề nghị xem xử mức hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo chỉ còn một mẹ già, con bị cáo bị khuyết tật, không có điều kiện thi hành án.

Đại diện Viện Kiểm sát đối đáp: Về mức phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo là đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Bị cáo đã mua khối lượng ma túy là 114,77 gam Methamphetamine để bán và đã bán thu lợi bất chính nên cần có hình phạt tiền đối với bị cáo như đã đề nghị.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt tiền cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Do mới chấp hành án phạt tù về địa phương, không có công việc và thu nhập ổn định nên khoảng tháng 9 năm 2024, bị cáo Hoàng Minh Tr nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng cuối tháng 10 năm 2024, bị cáo Tr liên hệ với đối tượng tên Hưng mua trái phép 100 gam ma túy đá, Hưng cho thêm Tr một ít Ketamine. Tr mang ma tuý về sử dụng một ít, còn lại cất giấu trong phòng ngủ và đã bán trái phép cho nhiều người, trong đó bán cho Phạm Văn Loát 40 gam ma túy đá và Nguyễn Thị Lừng 25 gam ma túy đá. Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của bị cáo Tr, đã thu giữ 49,77 gam Methamphetamine và 0,40 gam Ketamine do bị cáo cất giấu để bán. Như vậy, từ cuối tháng 10 năm 2025 đến ngày 08 tháng 11 năm 2025, bị cáo Hoàng Minh Tr đã mua, cất giấu 114,77 gam ma túy Methamphetamine, 0,40 gam Ketamine để sử dụng và bán cho nhiều người.

Bị cáo Hoàng Minh Tr có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bản thân là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiệm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung: Bị cáo Hoàng Minh Tr đã mua, bán trái phép 114,77 gam Methamphetamine và 0,40 gam Ketamine nên phải chịu tình tiết định khung phạm tội thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm”. Ngoài ra, bị cáo nhiều lần mua và bán trái phép chất ma túy nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Minh Tr thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có mẹ là Hồ Thị Bưởi và bố là Hoàng Xuân Đức đều được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba từ năm 1985, bị cáo có con đẻ là Hoàng Thị Thu Uyên bị khuyết tật và gia đình được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng người khuyết tật nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Ma tuý là tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, làm khánh kiệt kinh tế gia đình và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Hình phạt áp dụng đối với đối tượng phạm tội về ma tuý cần phải nghiêm khắc. Xét thấy, khối lượng ma túy bị cáo mua, bán trái phép là 114,77 gam Methamphetamine và 0,40 gam Ketamine tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình…”. Bị cáo Hoàng Minh Tr có 01 tiền án đã xóa án tích và 02 tiền án chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội về ma túy và là người thường xuyên sử dụng ma túy nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để tiếp tục giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Minh Tr theo quy định tại khoản 6 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025, nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ già yếu, con bị khuyết tật nên xem xét giảm mức phạt tiền thấp hơn so với đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động của bị cáo Hoàng Minh Tr đã sử dụng vào việc phạm tội; trả lại bị cáo Hoàng Minh Tr 01 điện thoại di động của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Minh Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Minh Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Tr 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 09 tháng 11 năm 2024.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Hoàng Minh Tr 10.000.000 (Mười triệu) đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

2.1. Tịch thu, tiêu huỷ vật chứng do phạm tội mà có:

01 phong bì niêm phong sau giám định có dấu niêm phong số 1285MT/PC09 và chữ ký của Hoàng Minh Tr, Hoàng Minh Hạnh, Nguyễn Văn Dân, Lê Đình Thạo, Nguyễn Trung Hiếu, bên trong có 28,91 gam tinh thể mẫu KX1; 44,79 gam tinh thể mẫu KX2; 0,29 gam tinh thể mẫu KX3;

01 phong bì niêm phong sau giám định có dấu niêm phong số 1285MT-A/PC09 và chữ ký của Hoàng Minh Tr, Hoàng Minh Hạnh, Nguyễn Văn Dân, Lê Đình Thạo, Nguyễn Trung Hiếu, bên trong có vỏ bao gói của các mẫu KX1 + KX2 + KX3;

2.2. Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước vật chứng sử dụng vào việc phạm tội:

01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh, có số IMEI: 353324652369197, số kèm theo 01 sim in dãy số 89840200010613678333 thu của Hoàng Minh Tr;

01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen có số IMEI1: 351402863516616, IMEI2: 351402863516624 kèm theo 01 sim in dãy số 89840509241453704925 thu của Hoàng Minh Tr;

2.3. Trả lại bị cáo Hoàng Minh Tr 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh có số IMEI1: 353147114195789, IMEI 2: 353147119195784 kèm theo 01 sim dãy số 8401221250752462 thu của Hoàng Minh Tr.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 12 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Minh Tr phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Minh Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Nhu

Đặng Hồ Điệp

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Lương Thị Kim Dung

Nguyễn Thị Luyến

Phạm Mạnh Hùng

Cỡ chữ