vanban.org

Bản án 16/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Ch phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Ch 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2025. Không phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 L…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Ch phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS - ST
Ngày: 27 - 08 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lê Xuân Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Vương, bà Trần Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực Mộc Châu thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La.

- Cán bộ Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Sơn La: Ông Hà Tuấn Thành

- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La: Ông Nguyễn Trọng Định.

Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Sơn La và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực M thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 08 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Hoàng Văn Ch, tên gọi khác: Không, sinh năm 1991, tại tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân Phố N, Phường Đ, thị xã M, tỉnh Sơn La (Nay là Tổ Dân Phố N, Phường MSơn, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hoàng Văn Ch (đã chết) và bà Hoàng Thị Nh, sinh năm 1974, bị cáo có vợ là Cà Thị D, sinh năm 1994 và 01 con sinh năm 2013.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Ngày 30/10/2021 Tòa án nhân dân huyện M ra quyết định số 07 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 14/7/2024.

Bị cáo hiện đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2025 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La - Phân trại khu vực M .Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 18 tháng 6 năm 2025, tổ công tác Công an phường Đ, thị xã M, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại tổ dân phố N, phường Đ, thị xã M, tỉnh Sơn La (nay là tổ dân phố N, phường M, tỉnh Sơn La). Tiến hành kiểm tra đối với Hoàng Văn Ch đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hiện Hoàng Văn Ch đang cầm trong lòng bàn tay trái 01 gói giấy bạc và nilon màu hồng, bên trong đựng 10 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY” nghi là ma túy tổng hợp, loại Methamphetamine. Ch khai nhận đó là gói ma túy, loại Methamphetamine của Ch mua được mục đích để bản thân sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng để điều tra, xử lý.

Ngày 18/6/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành xác định khối lượng 10 viên nén màu hồng thu giữ của Hoàng Văn Ch được 0,97 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,5 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu C.

Tại Kết luận giám định số: 691 ngày 21/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,5 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,97 gam; Loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra Hoàng Văn Ch khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 18/6/2025, Hoàng Văn Ch đi đến tổ dân phố C, phường Đ, thị xã M, tỉnh Sơn La nay là tổ dân phố C, phường M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy mang về sử dụng. Khi đến nơi, Ch đã gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 60 tuổi không quen biết 10 viên ma túy tổng hợp được đựng trong gói nilon, lớp ngoài cùng là giấy bạc với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Ch cầm trong lòng bàn tay trái đi về. Trên đường đi về đến khu vực tổ dân phố N, phường Đ, thị xã M, tỉnh Sơn La nay là tổ dân phố N, phường M, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác kiểm tra, phát hiện thu giữ.

Cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 06/8/2025 của Viện kiểm sát nhân Khu vực 6

- Sơn La đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Ch về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn Ch từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 gói giấy bạc + 01 mảnh nilon màu hồng + 05 viên hồng phiến; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma tuý đối với Hoàng Văn Ch.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có tranh luận gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Sơn La, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiểu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luật giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Bản tự khai, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 18/6/2025, Hoàng Văn Ch có hành vi cất giấu trái phép 0,97 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hoàng Văn Ch thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025, do đó áp dụng Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 59/2024/QH15 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự) để truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Văn Ch phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Ý kiến đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo có một tiền sự do đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chưa được xóa tiền sự. Vì vậy, cần áp dụng mức án nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm báo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

- Xét ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo, các vấn đề khác là phù hợp đúng quy định được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập ổn định, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 gói giấy bạc + 01 mảnh nilon màu hồng + 05 viên hồng phiến.; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma tuý đối với Hoàng Văn Ch. Là vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về các vấn đề khác:

- Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Hoàng Văn Ch, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra xác minh. Buộc Hoàng Văn Ch phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.

- Bị cáo đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử tiếp tục tạm bị cáo trong hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Ch phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Ch 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2025.

- Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu + 01 gói giấy bạc + 01 mảnh nilon màu hồng + 05 viên hồng phiến; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma tuý đối với Hoàng Văn Ch.

- Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 15/BBVC-THA ngày 13/08/2025.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ