- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Cứ Khua S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cứ Khua S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 04-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Sơn và ông Trần Văn Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Tố Uyên, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Điêu Thị Hà, Kiểm sát viên trung cấp Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 04 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Cứ Khua S, sinh năm 1972, tại tỉnh Lai Châu.
Tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Nơi ĐKHKTT: Bản C 3, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên (nay là bản C 3, xã N, tỉnh Điện Biên).
Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không.
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Cứ A T, đã chết ; Con bà: Mùa Thị D, sinh năm 1952.
Bị cáo có vợ Chang Thị L, sinh năm 1972. Bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/02/2014, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xét xử phạt bị cáo 25 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 25/8/2015, bị cáo chấp hành xong hình phạt chính và đã đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/4/2025, tạm giam từ ngày 28/4/2025 đến ngày xét xử, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Cứ Khua S: Bà Nguyễn Thị L, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 25/4/2025, Cứ Khua S một mình đi bộ từ nhà ở bản C 3, xã N, tỉnh Điện Biên xuống bản N để bắt xe khách đi làm thuê ở thành phố Hải Phòng. Bị cáo đi đến đầu bản Huổi Thanh 1, xã N bị cáo gặp và mua được một cục Heroine gói trong túi nilon màu xanh với giá 50.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch. Mua được Heroine, bị cáo cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc và tiếp tục đi bộ xuống bản N, xã N. Khi bị cáo đi đến đầu bản N thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,29 gam.
Cáo trạng số 15/CT-VKS-KV5 ngày 07/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên truy tố bị cáo Cứ Khua S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ Sng một số Điều của Bộ luật hình sự về quy định không có lợi đối với những hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Tuyên phạt bị cáo Cứ Khua S từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ Sng đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất trong mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo. Miễn hình phạt bổ Sng và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên và Luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 12 giờ 10 phút ngày 25/4/2025 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Cứ Khua S bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Đồn Biên phòng N đã thu giữ của bị cáo 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu hồi 16 giờ 10 phút ngày 25/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 19 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Cứ Khua S là 0,29 gam nghi là ma túy, gửi toàn bộ đi giám định.
Kết luận giám định số 357/KL-KTHS ngày 26/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 22 đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Cứ Khua S là 0,29 gam chất bột màu trắng là chất ma túy, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Cứ Khua S có tội. Bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cứ Khua S có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về tính chất mức độ phạm tội: Khối lượng gói Heroine thu giữ của Cứ Khua S là 0,29 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 đến dưới 05 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 18 Điều 1 của Bộ luật hình sự 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ Sng một số Điều của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 03 năm đến 05 năm tù. Bị cáo được áp dụng khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ Sng một số Điều của Bộ luật hình sự về quy định không có lợi đối với những hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Cứ Khua S là người dân tộc Mông, cư trú tại xã N, tỉnh Điện Biên. Bị cáo là người sử dụng ma túy nhiều năm và chưa từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 26/02/2014, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên xét xử phạt bị cáo 25 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 25/8/2015, bị cáo chấp hành xong hình phạt chính và đã đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên Hội đồng xét xử sẽ xem xét về nhân thân xấu của bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên và ý kiến của người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy đồng thời cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hình phạt bổ Sng: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ Sng đối với Cứ Khua S.
Về vật chứng: Vật chứng là 0,29 gam Heroine, gửi toàn bộ đi giám định và hoàn lại 0,24 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh nilon màu xanh là vật không có giá trị sử dụng. Các vật chứng này cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễn án phí. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các vấn đề khác: Nguồn gốc ma túy bị thu giữ bị cáo khai nhận mua một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên không đủ cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Cứ Khua S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Cứ Khua S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 25/4/2025.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng sau giám định:
- 01 gói niêm phong bằng phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên được dán kín, bên trong chứa 0,24 gam Heroine. Mặt trước phong bì có dòng chữ viết tay: Mẫu vật hoàn lại theo Kết luận giám định số 357/KL-KTHS, ngày 26/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Mặt sau phong bì có chữ ký, họ và tên của Nguyễn Thị Thúy M, Ngô Văn T và 03 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
- 01 phong bì công văn của Đồn Biên phòng N, các mép dán kín lại, bên trong có chứa 01 mảnh nlon màu xanh.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng hồi 15 giờ 00 phút ngày 08/8/2025 giữa Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 tỉnh Điện Biên).
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo Cứ Khua S.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Cứ Khua S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 04/9/2025.
| Nơi nhận: - Phòng GD,TT,KT&THA TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV-LLTP Công an tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 5 - Điện Biên; - Phân trại tạm giam N; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên; - THADS tỉnh Điện Biên; - Bị cáo, người bào chữa; - Công an xã N, tỉnh Điện Biên ; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM Khoàng Văn Sơn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỘI THẨM Nguyễn Mạnh Huấn Lầu Thị Liên |