- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn h - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 18 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kia.
2. Ông Hồ Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Huy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 08/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 27/8/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 26/4/1985 tại T, Bình Định; CCCD số: 052085012135; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (nay là xã B, tỉnh Gia Lai); nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn G (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; có vợ là Hồ Thị L và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/6/2025 cho đến nay; có mặt.
* Bị hại: Lê Thị Kim T, sinh năm 1981 (đã chết); nơi cư trú trước khi chết: Tổ D, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai). Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1973 (là chị gái của bị hại); địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh). Địa chỉ hiện nay: Tổ D, phường A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH C1; địa chỉ: Số C M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng (nay là phường K, thành phố Hải Phòng). Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1975, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh; địa chỉ: E P, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (nay là phường Q, tỉnh Gia Lai). Vắng mặt.
* Người làm chứng:
1. Nguyễn Thị Ngọc O, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ F, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai). Vắng mặt.
2. Nguyễn Thị Hoàng M, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ C, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn H là nhân viên lái xe hợp đồng của Công ty TNHH C1, được Công ty giao cho quản lý, sử dụng xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-076.40, kéo theo sơ mi rơ moóc 15R-151.70 để chở hàng cho Công ty. Tối ngày 04/4/2025, H điều khiển xe ô tô 15H-076.40, kéo theo sơ mi rơ moóc 15R-151.70 chở hàng từ phường Q lên phường P. Sau khi bỏ hàng, sáng ngày 05/4/2025, H điều khiển xe ô tô 15H-076.40, kéo theo sơ mi rơ moóc 15R-151.70 quay về lại phường Q. Hơn cho xe chạy trên đường T, hướng từ phường P đi phường Q. Khoảng 10 giờ 50 phút, xe của H chạy đến đoạn ngã tư nơi giao nhau giữa đường T và đường T (thuộc Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai). Đây là đoạn đường có biển báo tốc độ tối đa cho phép là 50km/h và có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau chạy theo vòng xuyến; từ bốn hướng đến đều có vạch sơn màu vàng đứt quãng phân chia phần đường tỉa ra hai bên; bốn hướng đều có trụ đèn tín hiệu đèn vàng nhấp nháy liên tục, đèn tín hiệu đều đang hoạt động bình thường. H điều khiển xe đi vào ngã tư với tốc độ từ 56km/h đến 61km/h. Cùng thời điểm này, phía bên trái (tính theo hướng xe của H điều khiển) có xe mô tô biển kiểm soát 81H1-004.16 do chị Lê Thị Kim T điều khiển hướng huyện K (nay là xã K, tỉnh Gia Lai) đi thị xã A (nay là phường A, tỉnh Gia Lai) đã vào ngã tư được 7m10 (tính từ mép bên trái đường tránh Đông G theo hướng P - Q) và cách mép bên phải 1m60 (đường T theo hướng K - A). Lúc này, H không giảm tốc độ, tiếp tục cho xe chạy vào giao lộ thì bánh xe bên ngoài trục 2 bên trái của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-076.40 va vào bánh trước, đầu xe mô tô 81H1-004.16 của chị T làm chị T và xe mô tô ngã xuống đường, chị T bị bánh xe bên trong trục 1 bên trái của sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R-151.70 chèn qua người tử vong tại hiện trường, xe mô tô hư hỏng. Hơn nghe có tiếng động va chạm ở bên hông xe phía bên tài nên nhìn vào gương chiếu hậu phía bên tài, thấy xe mô tô và chị T nằm trên đường, biết đã gây tai nạn thì H đạp thắng, dừng xe ở lề bên phải đường tránh Đông G (theo hướng phường P đi phường Q). Hơn xuống xe đi vào nhà người dân gần đấy nhờ họ trình báo cơ quan Công an.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Nơi xảy ra tai nạn là giao lộ ngã tư giữa Tỉnh lộ 669 với đường T Gia Lai thuộc tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai). Mặt đường trải bê tông nhựa bằng phẳng, mặt đường Tỉnh lộ 669 rộng 8m, mặt đường T rộng 10m, từ bốn hướng đến đều có vạch sơn màu vàng đứt quãng phân chia phần đường tỉa ra hai bên, bốn hướng đều có trụ đèn tín hiệu đèn vàng nhấp nháy liên tục, đèn tín hiệu đều đang hoạt động bình thường, tại lề đường bên phải từ bốn hướng đến đều có biển báo hiệu đi theo vòng xuyến, cách giao lộ khoảng 150 mét về hướng Gia Lai có biển báo tốc độ tối đa cho phép là 50km/h, nơi đây không có chướng ngại vật.
- Ghi nhận, đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí phương tiện, tang vật, dấu vết: (1) Xe mô tô 81H1-004.16, vết cày; (2) Tử thi Lê Thị Kim T; (3) Vết vân hoa lốp xe ô tô; (4) Diện chất màu nâu đỏ (nghi máu); (5) Tổ chức mô cơ (nghi tim người); (6) Xe ô tô đầu kéo 15H-076.40, kéo theo sơ mi rơ moóc 15R-151.70.
- Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Lấy trụ điện số 65/40/1H làm điểm mốc, mép đường bên phải hướng Kbang - A của đường Tỉnh lộ 669 làm chuẩn.
- Mô tả theo số thứ tự vị trí phương tiện, tang vật, dấu vết:
(1) Xe mô tô 81H1-004.16 nằm ngã nghiêng bên trái, đầu xe quay hướng đi K, đuôi xe quay hướng đi A, tâm trục bánh trước cách mép đường 2m30, cách mép đường trái hướng Gia Lai - Bình Định của đường T là 5m50 và cách điểm mốc 31m90, tâm trục bánh sau cách mép đường 1m40.
Cách trục sau (1) về hướng đi A 0,55m, cách mép đường 1m60 và cách mép đường bên trái hướng Gia Lai - Bình Định của đường T là 7m10 phát hiện 02 vết cày hình vòng cung, vết thứ nhất dây cung dài 33cm, vết thứ 2 dây cung dài 23cm.
(2) Tử thi Lê Thị Kim T nằm sấp, đầu quay hướng đi A, chân quay hướng ngược lại, đầu cách mép đường 3m20, gót chân trái cách mép đường 4m40 và cách tâm trục bánh trước (1) 1m90.
(3) Vết vân hoa lốp xe ô tô dài 46m40, vết màu nâu đỏ (nghi máu), dạng hai bánh đôi bề rộng vết rõ nhất là 22cm, vết không liên tục, vết cách vết 3m50, đầu vết cách mép đường 6m73, cách gót trong phải (2) là 2m80, cuối vết nằm tại cặp bánh bên tài trục một của sơ mi rơ moóc 15R-151.70.
(4) Diện chất màu nâu (nghi máu) diện (9x1,80m), đầu vết bắt đầu tại vị trí phần thân trên của (2) và điểm kết thúc tại vị trí (5).
(5) Tổ chức mô cơ (nghi tim người) nằm cách mép đường 12m, cách tâm trục ba bên tài của sơ mi rơ moóc 15R-151.70 là 41m75.
(6) Xe ô tô đầu kéo 15H-076.40, kéo theo sơ mi rơ moóc 15R-151.70 đỗ trên phần đường bên phải hướng Gia Lai - Bình Định của đường T; đầu xe quay hướng Bình Định, đuôi xe quay hướng Gia Lai, tâm bánh bên phụ trục một của đầu kéo cách lề là 63m75 và cách mép đường bên phải hướng Gia Lai - Bình định của đường tránh Đông G là 1m30, tâm bánh bên phụ trục một của sơ mi rơ moóc cách lề 55m75 và cách mép đường bên phải hướng Gia Lai - Bình Định của đường T là 1m50.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- Đối với xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-076.40, nhãn hiệu CNHTC, màu sơn: Bạc, loại xe: Ô tô đầu kéo, số máy D124250190217022467, số khung LZZ1CLVB9KA539477, kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R-151.70, nhãn hiệu CIMC, loại phương tiện: Sơ mi rơ moóc tải (chở container), màu sơn: Xanh, số khung LJRC0937XGK0W6606.
+ Tại vị trí khung kim loại phía bên tài xe ô tô đầu kéo 15H-076.40 khung bảo vệ thùng nhiên liệu có dấu vết trầy xước mài mòn, kim loại trong diện (6x4)cm.
+ Tại vị trí theo chiều hướng (từ đầu xe đến đuôi xe) tấm chắn bùn phía bên tài của xe ô tô đầu kéo 15H- 076.40 kéo theo sơ mi rơ moóc 15R-151.70 có dấu vết màu nâu trong diện (8x4)cm.
+ Tại vị trí bánh xe bên ngoài trục 2 bên trái của xe ô tô đầu kéo 15H-076.40 có vết xước cao su trong diện (42x20)cm.
+ Tại vị trí bánh xe bên trong trục 1 bên trái của sơ mi rơ moóc 15R-151.70 có dấu vết màu nâu (nghi máu) trong diện (20x50)cm.
- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 81H1-004.16, nhãn hiệu Honda, loại Click, màu trắng đen, số khung 03AY811887, số máy 18E0265493.
+ Ốp đèn pha phía trước bị trầy xước nhựa, bám dính chất màu nâu trong diện (20x15) cm, trầy xước diện (35x45)cm.
+ Chắn bùn bánh xe phía trước trầy xước, bể vỡ phần đầu trong diện (9x3) cm.
+ Phuộc trước bên phải bị trầy xước, bám dính chất màu nâu trong diện (30x5)cm, cong vênh.
+ Tại vị trí khớp gắn cánh yếm bên phải và mặt nạ phía trước bung rời khỏi vị trí cố định ban đầu.
+ Gương chiếu hậu bên trái bị bung rời mặt kính hoàn toàn chỉ còn lại gọng gương.
+ Ốp gầm xe phía trước bên trái bị trầy xước nhựa trong diện (14x4) cm.
+ Tại vị trí khớp gắn cánh yếm bên trái bung rời khỏi vị trí ban đầu.
+ Tại vị trí chân chống đứng bị trầy xước, mài mòn kim loại trong diện (2x3)cm.
+ Vành bánh xe phía trước bị trầy xước, bám dính chất màu nâu trong diện (40x5)cm, cong vênh.
+ T1 tay phía trước bên trái bị gãy phần đuôi tay thắng.
* Kết quả trưng cầu giám định:
- Tại bản kết luận giám định tử thi số 330/KLGĐTT-KTHS ngày 25/4//2025 của Phòng K Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết của Lê Thị Kim T là đa chấn thương.
- Tại bản kết luận giám định tư pháp ngày 26/4/2025 của Giám định viên Sở Xây dựng tỉnh G kết luận: Xe ô tô đầu kéo, biển số 15H-076.40 tại thời điểm giám định không đảm bảo an toàn kỹ thuật (Trục 1 sử dụng cỡ lốp không đúng theo tài liệu kỹ thuật; đèn lùi không sáng khi cài số lùi; lắp thêm bơm thuỷ lực để nâng hạ thùng hàng không đúng theo tài liệu kỹ thuật). Sơ mi rơ moóc tải (chở container), biển số 15R-151.70 tại thời điểm giám định không đảm bảo an toàn kỹ thuật (số khung có dấu hiệu sửa chữa, tẩy xoá; sử dụng cỡ lốp không đúng theo tài liệu kỹ thuật; thiết bị bảo vệ thành bên và phía sau lắp đặt không đúng theo tài liệu kỹ thuật; gắn thêm ty thuỷ lực).
* Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A xác định: Giá trị thiệt hại của xe mô tô 81H1-004.16, nhãn hiệu Honda, loại Click, màu trắng - đen, số máy 18E0265493, số khung 03AY811887 đăng ký ngày 22/02/2011, bị hư hỏng do tai nạn giao thông tại thời điểm ngày 05/4/2025 là 1.252.000 đồng.
* Các đồ vật, tài liệu Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ gồm:
- 01 Xe ô tô đầu kéo biển số 15H-076.40, số máy D124250190217022467, số khung LZZ1CLVB9KA539477, kéo theo sơ mi rơ moóc 15R-151.70, số khung LJRC0937XGK0W6606.
- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15084789 của xe ô tô đầu kéo biển số 15H-076.40 (Bản gốc).
- 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EB 0518710 của xe ô tô biển số 15H-076.40 (Bản gốc).
- 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơmi rơ moóc số 018084, biển số 15R-151.70 (Bản gốc).
- 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EB 1089615 của Sơ mi rơ moóc biển số 15R-151.70 (Bản gốc).
- 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 520121003918, tên Nguyễn Văn H do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 27/10/2020 (Bản gốc).
- 01 Xe mô tô biển kiểm soát 81H1-004.16, nhãn hiệu Honda, loại Click, số khung 03AY811887, số máy 18E0265493.
- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000242, biển số 81H1-004.16 (Bản gốc).
- 01 Giấy phép lái xe số V071828, hạng A1, tên Lê Thị Kim T do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 15/3/2005 (Bản gốc).
* Xử lý vật chứng, tài liệu:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-076.40 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R-151.70 cùng giấy tờ liên quan cho đại diện Công ty TNHH C1 và Kinh doanh Than Xuân P và trả lại xe mô tô biển kiểm soát 81H1-004.16 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe của chị T cho đại diện gia đình bị hại.
* Về dân sự:
Sau khi xảy ra tai nạn, Nguyễn Văn H và Công ty TNHH C1 và Kinh doanh Than Xuân P đã bồi thường cho gia đình bị hại Lê Thị Kim T số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình bị hại Lê Thị Kim T đã viết đơn bãi nại về mặt dân sự, không có ý kiến, yêu cầu gì thêm.
Đối với chủ sở hữu của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-076.40 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R-151.70, sau khi nhận lại xe, Công ty TNHH C1 và Kinh doanh Than Xuân P không có ý kiến, yêu cầu gì.
Tại Bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 08/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị như sau: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 40 tháng.
Về dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 520121003918, tên Nguyễn Văn H do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 27/10/2020.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bà Lê Thị Kim C là người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Nguyễn Văn H và đại diện Công ty đã thăm hỏi, động viên và bồi thường cho gia đình bà với số tiền 150.000.000 đồng. Bà C không yêu cầu phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thấy được lỗi của mình và phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án, do đó đã có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Văn H đã học và được Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp Giấy phép lái xe hạng FC vào ngày 27/10/2020. Ngày 05/4/2025, H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-076.40 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R-151.70 lưu thông trên đường T hướng P đi Q. Khi đến đoạn đường giao nhau giữa đường T và đường T (thuộc Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai (nay là phường A, tỉnh Gia Lai), gây tai nạn với xe mô tô 81H1-044.16 do chị Lê Thị Kim T điều khiển làm chị T người tử vong tại hiện trường, xe mô tô 81H1-044.16 bị hư hỏng thiệt hại 1.252.000 đồng. Nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn là do H điều khiển xe vào giao lộ nơi có biển báo tốc độ tối đa cho phép là 50km/h, có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau chạy theo vòng xuyến, có trụ đèn tín hiệu đèn vàng nhấp nháy liên tục đang hoạt động bình thường; nhưng H không giảm tốc độ mà chạy xe với tốc độ từ 56km/h đến 61km/h, không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi đến từ bên trái, nên bánh xe bên ngoài trục 2 bên trái của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-076.40 va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 81H1-004.16 do chị Lê Thị Kim T (đã có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển làm chị T ngã xuống đường và bị bánh xe bên trong trục 1 của sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R-151.70 chèn qua người tử vong. Hành vi của Nguyễn Văn H đã vi phạm khoản 1 Điều 10; khoản 2, điểm b khoản 4 Điều 11; khoản 1, điểm d khoản 3 Điều 12; khoản 3 Điều 22 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, gây tai nạn làm chết 01 người. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã cùng với chủ phương tiện bồi thường cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm chết một người. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng hình phạt tù theo khung hình phạt. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động chính trong gia đình việc cấm hành nghề lái xe trong một thời gian nhất định sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình bị cáo. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là “Cấm hành nghề” theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Về dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Nguyễn Văn H đã cùng chủ sở hữu phương tiện bồi thường cho gia đình bị hại với số tiền 150.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng: Do không áp dụng biện pháp cấm hành nghề lái xe nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 520121003918, tên Nguyễn Văn H do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 27/10/2020.
Đối với hành vi vi phạm được nêu tại Kết luận giám định tư pháp ngày 26/4/2025 của của Giám định viên Sở Xây dựng tỉnh G. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan để xử lý hành chính đối với lái xe Nguyễn Văn H và Công ty TNHH C1 và Kinh doanh Than Xuân P theo quy định.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 299; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/9/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 520121003918 mang tên Nguyễn Văn H do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 27/10/2020.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 - Gia Lai).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (18/9/2025) bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt tại phiên tòa được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Công an tỉnh Gia Lai; - VKSND khu vực 13-Gia Lai; - Phòng THADS khu vực 13-Gia Lai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, VPTA. | M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đồng Ánh Đông |