vanban.org

Bản án 16/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 04/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức C 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về án phí: Bị cáo Vũ Đức C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đức Cảnh phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày: 04/04/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Quang Khuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đăng Đông, bà Nguyễn Thị Hải.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Giang, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Vũ Đức C, sinh ngày 05/11/1992, tại huyện B, tỉnh H; Nơi cư trú: Thôn Tr, xã Th, huyện B, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Vũ Văn Nhung; tên gọi khác: Vũ Đức Nh và bà Nguyễn Thị Ng; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/11/2024 đến ngày 04/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Văn K(đã chết).

Sinh quán: Khu Th, thị trấn K, B, tỉnh H.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lê Thị Ng, sinh năm 1981,

Nơi cư trú: Khu Thượng, thị trấn Kẻ Sặt, huyện B, tỉnh H, xin vắng mặt,

- Người tham gia tố tụng khác: Anh Vũ Anh T, anh Nguyễn Văn V, Anh Trần Thế A, anh Phan Đình T, chị Phạm Thị H, là những người làm chứng, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vũ Đức C không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Khoảng 21 giờ ngày 23/11/2024, C đang ở nhà thì nhận được điện thoại của bạn là anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1990, trú tại xã Ph, huyện A, tỉnh H gọi đến quán Karaoke WinClub ở thôn L, xã Th, huyện B, tỉnh H cùng anh V và một số người bạn đi ăn đêm. Lúc này, C thấy xe ô tô BKS 34A - 623.56 của Anh Vũ Anh T, sinh năm 1987 (là anh trai ở cùng nhà với C, anh Tạo đang trong phòng ngủ trên tầng 2) để ở nhà, chìa khoá để trên bàn uống nước nên tự ý lấy chìa khoá rồi điều khiển xe đi đến quán Karaoke WinClub (C biết lái xe ô tô nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe ô tô theo quy định) đón anh Việt, Anh Trần Thế A, sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã Ph, huyện A và anh Phan Đình T, sinh năm 1990, trú tại thôn L, xã Th. C điều khiển xe ô tô đi từ quán Karaoke theo đường Thanh Niên, xã Thúc Kháng đi hướng thị trấn K, huyện B. Khi đi đến đường Quốc lộ 38 mới, C điều khiển xe rẽ vào đường cánh đồng Chè Sen, thuộc địa phận khu Thượng đến thị trấn K, huyện B ăn đêm. Cùng lúc này anh Phạm Văn K, sinh năm 1974, trú tại khu Thượng, thị trấn Kẻ Sặt điều khiển xe mô tô BKS 34B3-676.90 và chị Phạm Thị H, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã Th điều khiển xe mô tô BKS 34B4-305.83 chở cháu Nguyễn Kim A, sinh năm 2010 (là con chị H) đang đi phía trước cùng chiều. Do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên phần đầu bên phải xe ô tô do C điều khiển va chạm vào phía sau làm xe mô tô của anh K đổ xuống đường, anh K bị thương tích; chị H thấy vậy bị giật mình làm đổ xe ngã ra đường. C điều khiển xe ô tô đi về phía thị trấn Kẻ Sặt rồi theo đường Quốc lộ 38 cũ vòng qua xã Ph, huyện A quay lại dừng xe trên Quốc lộ 38 mới (cách vị trí xảy ra tai nạn 77m) rồi cùng anh V, anh T, anh Thế A đến đưa anh K lên xe ô tô của anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 2000, trú tại khu Th, thị trấn K (anh Ngọc A là người nhà chị H) chờ sẵn ở trên Quốc lộ 38 mới để đi cấp cứu. Sau đó C lái xe ô tô đến quán Bi-a của anh Vũ Văn Tốt, sinh năm 1990 (anh Tốt ở cùng thôn với C và đang thuê quán tại thôn La Mát, xã Ph, huyện A, đồng thời gọi điện nhờ anh Vũ Duy Đ, sinh năm 1997 ở cùng thôn báo cho anh T về việc C lái xe gây tai nạn để anh T đến lấy xe mang giao nộp cho Công an huyện, còn C ngủ lại nhà anh Tốt. Khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, anh T nhờ anh Vũ Văn Tr - sinh năm 1990 ở cùng thôn đi lấy xe ô tô giao nộp cho Công an huyện, còn anh T đến Công an huyện Bình Giang để làm việc. Hồi 15 giờ ngày 24/11/2024, C đến Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Bình Giang đầu thú, khai nhận hành vi của mình. Hậu quả vụ tai nạn: Anh K tử vong trên đường đi cấp cứu, chị H và cháu Kim A bị xây xát nhẹ, xe ô tô và 2 xe mô tô hư hỏng nhẹ.

Khám nghiệm hiện trường tại nơi x y ra tai nạn, xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thuộc khu vực cánh đồng Chè Sen thuộc khu Thượng, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, mặt đường đất đá, lồi lõm, gồ ghề rộng 3,9m, hai bên là khu vực cánh đồng, không có hệ thống cọc tiêu, biển báo hiệu đường bộ. Thống nhất lấy mép đường phải Quốc lộ 38 (chiều Quán Gỏi đi Ân Thi) làm điểm mốc, thống nhất phải trái theo hướng Quốc lộ 38 đi Khu Thượng, thị trấn Kẻ Sặt, lấy mép đường phải khu vực cánh đồng Chè Sen làm chuẩn.

Cách điểm mốc về hướng khu Thượng 77m là tâm vùng máu đậm đặc trên mặt đường bên phải KT (0,6 x 0,9)m, tâm cách chuẩn 1m; Cách tâm vùng máu về hướng khu Thượng 0,6m là tâm bánh sau xe mô tô BKS 34B4 - 305.83 đổ nghiêng trái, chếch chéo mặt đường, đầu xe quay ra cánh đồng chếch hướng khu Thượng, sau xe chếch hướng đường Quốc lộ 38, tâm bánh trước và bánh sau cách chuẩn lần lượt là 0,2m và 0,7m; Cách tâm bánh sau xe mô tô trên về hướng khu Thượng 10,3m là tâm bánh sau xe mô tô BKS 34B3 - 676.90 đổ nghiêng trái, quay ngang đường, đầu xe hướng ra cánh đồng, sau xe hướng vào tim đường, tâm bánh trước trùng với mép chuẩn, tâm bánh sau cách chuẩn 1,3m.

Khám xe ô tô BKS 34A - 623.56 liên quan đến tai nạn, xác định: Mặt nạ trước đầu xe bên phải để lại vết va đập theo chiều trước lại sau làm bẹp lõm, dập vỡ nhựa KT (40 x 30)cm, bề mặt còn bám dính mảnh kính, nhựa màu đỏ, điểm giữa cách đất 73cm, cách đầu chắn đà phải 70cm; Tiếp giáp vùng vết trên xuống phía dưới là đầu bên phải biển số xe, để lại vết va đập theo chiều trước lại sau, bị cong về phía sau so với vị trí ban đầu 4cm, phần nhựa ốp phía ngoài bị dập vỡ KT (24 x 10)cm, điểm cao nhất cách đất 60cm, cách đầu chắn đà phải 65cm; Mặt trước và dưới điểm giữa đầu chắn đà phía dưới gầm xe để lại vết va đập, làm gãy nhựa và kim loại, điểm gãy cách đầu chắn đà phải 80cm, cách đất 30cm; Mặt ngoài cánh cửa phía trước bên phải để lại vết cọ xát, xước sơn theo chiều trước lại sau KT (80 x 1)cm, điểm đầu vùng vết cách mép cánh cửa trước 65cm, cách đất 77cm, điểm cuối cách đất 55cm; Mặt ngoài cánh cửa phía sau bên phải để lại vết cọ xát, xước kim loại theo chiều trước lại sau KT (60 x 4)cm, điểm đầu cách mép cửa trước 60cm, cách đất 70cm, điểm cuối cách đất 76cm.

Khám xe mô tô BKS 34B3 - 676.90 xác định: Toàn bộ phần đuôi xe để lại vết va đập theo chiều từ sau về trước làm 1/2 chắn bùn phía sau có gắn biển số bị gãy rời khỏi xe, đèn phản quang tiếp giáp phía trên biển số bị vỡ nhựa màu đỏ KT (9 x 4)cm; Ốp nhựa phía ngoài ống xả để lại vết va đập làm xô lệch lên phía trên so với tư thế ban đầu 13cm, tại mặt sau còn để lại vết dập nhựa dài 5cm; Mặt ngoài ốp trung tâm phía sau bên trái yên xe để lại vết cọ xát, xước kim loại KT (4 x 0,1)cm, điểm giữa cách đuôi xe 5cm, cách đất 80cm; Ốp nhựa góc đèn xi nhan sau bên trái để lại vết cọ xát, xước nhựa KT (5 x 3)cm, điểm giữa cách đuôi xe 15cm, cách đất 70cm; Ốp nhựa góc đèn xi nhan sau bên phải để lại vết cọ xát xước nhựa KT (4 x 1)cm, điểm giữa cách đuôi xe 11cm, cách đất 68cm; Mặt ngoài phía sau ốp động cơ bên trái để lại vết cọ xát KT (17 x 5)cm bề mặt dính đất, cỏ; Mặt trước đầu tay nắm trái để lại vết cọ xát, xước kim loại KT (0,5 x 0,5)cm, bề mặt còn bám dính bột đất; Toàn bộ ốp nhựa và kính đèn pha phần bên trái còn để lại vùng vết xước nhựa KT (40 x 6)cm, bề mặt còn bám dính bột đất; Ốp nhựa sườn xe bên phải để lại vết dập vỡ nhựa dài 10cm, vị trí dập vỡ cách đuôi xe 80cm.

Khám xe mô tô BKS 34B4 - 305.83 xác định: Không có dấu vết va chạm với phương tiện khác. Chỉ có dấu vết xác định do đổ xuống đường để lại cụ thể: Cạnh ngoài phần đầu giá để chân người ngồi sau bên trái để lại vết cọ xát, xước nhựa theo chiều từ trước lại sau KT (12 x 4) cm, bề mặt còn bám dính cỏ, bột đất; Mặt ngoài đầu cánh yếm bên trái để lại vùng cọ xát, xước nhựa theo chiều từ trước lại sau KT (10 x 8)cm, bề mặt còn bám dính bột đất, cỏ.

Kết luận giám định tử thi số 363/KLGĐTT-KTHS ngày 30/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Anh Phạm Văn K tử vong do chấn thương ngực kín (gãy nhiều xương sườn, tràn máu, tràn khí khoang ngực); trên tử thi Anh Phạm Văn Kkhông ghi nhận được dấu vết bánh xe chèn qua.

Kết luận giám định số 9167/KL-KTHS ngày 03/12/2024; số 9169/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu máu và mẫu nước tiểu thu của Vũ Đức C gửi đến giám định; Không tìm thấy ethanol (cồn) trong mẫu máu của Vũ Đức C.

Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐG ngày 24/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Bình Giang kết luận: Xe mô tô BKS 34B3-676.90 bị hư hỏng, thiệt hại 3.956.000 đồng; xe ô tô BKS 34A - 623.56 bị hư hỏng, thiệt hại 3.083.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKSBG ngày 05/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo Vũ Đức C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a,b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt với mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang thực hành quyền công tố trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt chính: Căn cứ điểm a,b khoản 2 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức C 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Đức C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Giang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, lời khai đại diện bị hại, người làm chứng, phù hợp sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh khám phương tiện, các kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vũ Đức C không có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/11/2024, tại đường cánh đồng Chè Sen, thuộc khu Thượng, thị trấn Kẻ Sặt, huyện B, tỉnh H, Vũ Đức C điều khiển xe ô tô BKS 34A-623.56 (trong tình trạng cơ thể có chất ma túy loại Methamphetamine) theo hướng xã Thúc Kháng đi thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ dẫn đến va chạm vào xe mô tô BKS 34B3 - 676.90 do Anh Phạm Văn K điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả làm anh K tử vong trên đường đi cấp cứu, thiệt hại về tài sản là 3.956.000 đồng.

. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tham gia giao thông phải có giấy phép lái xe theo quy định, làm chủ phương tiện và chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông đường bộ. Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được Luật hình sự bảo vệ đó là trật tự an toàn giao thông đường bộ, bị cáo biết bản thân không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định nhưng lại tự ý điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, khi điều khiển xe ô tô BKS 34A-623.56 trong tình trạng cơ thể có chất ma túy loại Methamphetamine, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giữ đúng khoảng cách an toàn dẫn đến va chạm vào xe mô tô BKS 34B3-676.90 do Anh Phạm Văn K điều khiển đi phía trước cùng chiều làm xe mô tô của anh K đổ xuống đường, đây là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông, lỗi do bị cáo. Hậu quả anh K bị chết, chị Hvà cháu Kim Anh bị xây xát, các phương tiện bị hư hỏng nhẹ. Như vậy bị cáo Vũ Đức C là người có lỗi trong việc gây ra tai nạn. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 7, khoản 9, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, hậu quả Anh Phạm Văn K bị chết và gây thiệt hại về tài sản là 3.956.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã phạm. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại anh Phạm Văn K, đại diện gia đình bị hại Chị Lê Thị Ng có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo tự nguyện ra đầu thú, bị cáo đã có nhiều đóng góp trong công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi huyện Bình Giang năm 2021 được tặng giấy khen, bị cáo có ông nội là ông Vũ Huy Bộ được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì trong kháng chiến chống mỹ cứu nước, được tặng Huy hiệu 60 năm tuổi đảng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo chưa có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, lái xe trong tình trạng cơ thể có chất ma túy loại Methamphetamine và không tuân thủ các nguyên tắc giao thông đường bộ đã gây tai nạn với hậu quả làm chết người và thiệt hại về tài sản, lỗi thuộc về bị cáo, do vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Vũ Văn C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 400.000.000 đồng (gồm chi phí cấp cứu, mai táng, tổn thất tinh thần và các chi phí hợp lý khác), đại diện gia đình anh K là chị Ng đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm khoản nào khác. Trách nhiệm dân sự trong vụ án đã giải quyết xong. Đối với xe mô tô BKS 34B4 -305.83 là tài sản hợp pháp thuộc sở hữu của chị Phạm Thị H, ngày 24/11/2024, Cơ quan C sát điều tra trả lại xe mô cho chị Phạm Thị H để quản lý, sử dụng nên không xét giải quyết. Đối với thiệt hại xe ô tô của Anh Vũ Anh T và xe mô tô của chị Phạm Thị H, anh Tạo và chị H không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường, nên không xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô BKS 34A- 623.56 là tài sản hợp pháp của Anh Vũ Anh T, Cơ quan C sát điều tra trả lại xe mô tô cho anh T. Ngày 10/12/2024, trả lại xe mô tô BKS 34B3- 676.90 cho Chị Lê Thị Ng, để quản lý, sử dụng nên không xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm a,b khoản 2 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 135, 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức C 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Vũ Đức C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ