- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố, bị cáo Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 27-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Đức Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Quang Thanh;
2. Bà Triệu Thị Múi.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hạ Thị Soan -Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Phòng xử án Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 03/3/2025 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04 tháng 4 năm 1983 tại: xã N1, huyện B, tỉnh Cao Bằng; giới tính: Nam; nơi cư trú: xóm N, xã N1, huyện B, tỉnh Cao Bằng; số Căn cước: 004083005324; nghề nghiệp: Trồng trọt; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán chỉ; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 0/12; con ông: G (Đã chết); con bà: Nh (Đã chết); anh, em của bị cáo: bị cáo có 03 (Ba) anh, em bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ: H, sinh năm 1981; con: 02 (Hai) con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/7/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Chứa chấp việc xử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội bị cáo Tránh Văn Đ phải chấp hành 09 năm tù tại Bản án số: 04/2011/HSST.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực Bảo Lâm thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng. (Có mặt).
*Người làm chứng: Th, sinh ngày 25/10/1992; nơi cư trú: xóm P, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 15 phút ngày 15/12/2024, tổ công tác Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng trong khi đang thực hiện nhiệm vụ tại xóm T, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng phát hiện bắt quả tang Th, sinh năm: 1992; trú tại: xóm P, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính đối với Th phát hiện thu giữ trên tay phải Th đang cầm 01(Một) xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng, tiến hành lập biên bản sự việc đưa người cùng với tang vật về trụ sở Công an huyện Bảo Lâm, trỉnh Cao Bằng để tiến hành điều tra làm rõ.
Th khai nhận: Sáng ngày 15/12/2024 do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy Th đi đến nhà của Đ, sinh ngày 04/4/1983; trú tại: xóm N, xã N1, huyện B, tỉnh Cao Bằng mua với Đ được 01 gói nhỏ Heroine với số tiền 100.000 đồng, khi mua được ma túy Th quay trở về xóm Nà Tồng trên đường trở về Th bước xuống ven đường để sử dụng ma túy, khi đang sử dụng bị tổ công tác Công an huyện Bảo Lâm phát hiện bắt quả tang.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm ra Lệnh khám xét khẩn cấp số: 374/LKX-ĐTTH tiến hành khám xét chỗ ở của Đ. Trước khi tiến hành khám xét Đ tự giác giao nộp một số đồ vật, tài liệu sau:
- 01(Một) gói được gói bằng túi nilon màu xanh, 02(Hai) gói được gói bằng giấy màu trắng, bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng (nghi là Heroin). Số chất bột trên được Đ lấy từ túi quần trước bên phải đang mặc;
- 01(Một) gói được gói bằng túi nilon màu xanh, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là Heroin). Số chất bột trên được Đ lấy từ túi quần trước bên trái đang mặc.
Trong quá trình khám xét phát hiện, tạm giữ những đồ vật, tài liệu sau :
- Tại buồng ngủ thứ nhất bên phải hướng từ ngoài cửa vào trong nhà của Đ phát hiện: 01(Một) cân tiểu ly, vỏ bằng gỗ được cất trong một túi nilon màu xanh treo trên tường trong buồng ngủ. Trên giường ngủ phát hiện số tiền 800.000 đồng.
- Trên sàn trong bếp ăn trong nhà của Đ phát hiện, tạm giữ 01(Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu xanh, đã qua sử dụng.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số: 373/LGN-ĐTTH, ngày 15/12/2024 đối với Đ. Quá trình giữ người, đã phát hiện, tạm giữ những đồ vật, tài liệu sau: Tại túi quần phía trước bên phải quần Đ đang mặc có 01 (Một) ví giả da màu đen, bên trong có số tiền 360.000 đồng.
Ngày 15/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tiến hành mở niêm phong và cân khối lượng số chất bột màu trắng của Đ giao nộp khi khám xét chỗ ở của Đ có khối lượng 0,57 gam. Ngày 17/12/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 539/QĐ- ĐTTH giám định số ma túy thu giữ của Đ. Tại bản Kết luận giám định số: 49/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra Đ khai nhận: Sáng ngày 15/12/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy Đ đi tìm mua Heroine gặp một người đàn ông trên đường dân sinh tại xóm N, xã N1, huyện B, tỉnh Cao Bằng Đ hỏi tìm mua Heroine được người này đồng ý. Đ có đưa cho người này số tiền 600.000 đồng, sau khi nhận tiền, người đàn ông đưa cho Đ 01(Một) gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh, về đến nhà Đ trích lấy một phần nhỏ để sử dụng cho bản thân bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại Đ chia thành 02(Hai) gói được gói bằng nilon màu xanh và 02(Hai) gói được gói bằng nilon màu trắng. Sau đó, lấy 01(Một) gói màu xanh cất vào túi quần trước bên trái quần Đ đang mặc, còn 03(Ba) gói còn lại Đ cất vào ví giả da màu đen giấu trong túi quần trước bên phải quần Đ đang mặc, mục đích để Đ sử dụng và bán lại kiếm lời. Trưa cùng ngày có Th đến nhà của Đ hỏi mua Heroine thì được Đ đồng ý, Th đưa cho Đ số tiền 100.000 đồng, khi đã nhận tiền Đ lấy trong ví ra 01(Một) gói được gói bằng giấy màu trắng, bớt lại một phần gói lại vào mảnh nilon màu xanh khác đưa cho Th. Sau khi mua được Heroine, Th quay về đến xóm T, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng lấy gói Heroine vừa mua được, đem pha chế và sử dụng bằng hình thức chích vào cơ thể, khi Th vừa sử dụng xong liền bị Công an huyện Bảo Lâm phát hiện bắt quả tang.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Đ đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Các vật chứng, tài sản bị tạm giữ đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng để đảm bảo việc Thi hành án.
*Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh, điều luật như Cáo trạng số: 14/CT-VKSBL ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) phong bì thư, mặt trước ghi: "Vật chứng vụ án có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 15/12/2024 tại xóm N, xã N1, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng", mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của Đ và đóng dấu giáp lai của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng; 01(Một) xilanh - kim tiêm, đã qua sử dụng; 01(Một) túi nilon, màu xanh; 01(Một) ví giả da màu đen, đã qua sử dụng.
+ Trả lại bị cáo Đ: 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu xanh; 01(Một) cân tiểu ly, vỏ bằng gỗ.
+Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền: 100.000 đồng, trong tổng số tiền 1.160.000 đồng đã chuyển vào tài khoản tạm giữ số: 3949.0.1036410.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm tại Ngân hàng Agribank - Chi nhánh huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng ngày 05/02/2025.
+ Trả lại bị cáo Đ số tiền: 1.060.000 đồng, trong tổng số tiền 1.160.000 đồng hiện nay đang bị tạm giữ.
- Về án phí: Bị cáo Đ được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
* Bị cáo Đ không có ý kiến tranh luận và đồng ý với tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng truy tố.
* Lời sau cùng của bị cáo, rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các quy định của pháp luật giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo mau chóng sớm được trở về, tái hoà nhập cộng đồng với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà bị cáo Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với Cáo trạng truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý Đ đã mua Heroine về sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời, ngày 15/12/2024 Đ được mua 01(Một) gói Heroine với số tiền 600.000 đồng, với một người đàn ông không biết họ tên tại xóm N, xã N1, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Khi mua được Heroine Đ chia ra 04(Bốn) gói nhỏ, đã chia để sử dụng một phần, được bán 01(Một) gói Heroine cho Th với số tiền 100.000 đồng, để sử dụng, số ma túy còn lại Đ chưa kịp bán cho ai thì bị Công an huyện Bảo Lâm thu giữ có khối lượng 0,57 gam. Tại Kết luận giám định số: 359/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Heroine.
Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án và pháp luật nghiêm cấm. Hành vi trên đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy" được quy định tại khoản 1, Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy.
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
………….”
Bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSBL ngày 28/02/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng truy tố đối với bị cáo Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
. Về nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo Đ từ nhỏ được bố mẹ nuôi dưỡng, không được đi học, lớn lên lập gia đình, sinh sống bằng nghề trồng trọt tại xóm N, xã N1, huyện B, tỉnh Cao Bằng bị cáo là người có nhân thân xấu. Ngày 12/7/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Chứa chấp việc xử dụng trái phép chất ma túy” tổng hợp hình phạt chung của hai tội bị cáo Đ phải chấp hành là 09 năm tù theo Bản án số: 04/2011/HSST. Ngày 21/01/2017 bị cáo chấp hành xong bản án, trở về địa phương bị cáo Đ không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân mà tái sử dụng và lệ thuộc vào ma túy. Nhận thấy, việc bán Heroine cho người khác có lợi nhuận, bị cáo Đ đã mua ma túy để bán lại cho Th kiếm lời, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi mua bán trái phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Tại phiên toà bị cáo Đ đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi đã thực hiện. Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ (Người phạm tội thành khẩn khai báo, được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự) là có căn cứ.
Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo; đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội và trong công tác phòng, chống ma túy.
Trong vụ án này: Đối với Th được mua Heroine với Đ về để sử dụng, khi mua Heroine không cân nên không rõ khối lượng, số Heroine Th mua đã sử dụng hết nên không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 05/QĐ-XPHC ngày 18/02/2025 đối với Th về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma tuý, bằng hình thức cảnh cáo.
Đối với người đàn ông bán Heroine cho Đ ở đường dân sinh thuộc xóm N, xã N1 ngày 15/12/2024, do bị cáo Đ không biết thông tin họ tên và địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở mở rộng điều tra trong vụ án này.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đ không có thu nhập ổn định, bị cáo là người thường xuyên sử dụng ma túy, mục đích mua ma túy nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân là chính. Hội đồng xét xử xét thấy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
. Hướng xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01(Một) phong bì thư, mặt trước ghi: "Vật chứng vụ Đ có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 15/12/2024 tại xóm N, xã N1, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng", mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của Đ và đóng dấu giáp lai của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, Cao Bằng; 01(Một) xilanh kim tiêm, đã qua sử dụng; 01(Một) túi nilon, màu xanh; 01(Một) ví giả da màu đen, đã qua sử dụng. Là các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01(Một) cân tiểu ly, vỏ bằng gỗ. Là tài sản của bị cáo Đ, mục sử dụng vào việc để cân vàng, vật chứng trên không liên quan đến hành vi phạm tội; do đó, cần hoàn trả lại bị cáo cân tiểu ly trên.
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI 1: 867253059523719, số IMEI 2: 867253059523701 đã qua sử dụng. Điện thoại trên là của bị cáo Đ do bị cáo lao động có tiền mua được, bị cáo sử dụng để liên lạc với gia đình, không sử dụng vào việc thực hiện tội phạm. Không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; do vậy, cần hoàn trả lại bị cáo điện thoại trên.
- Số tiền 1.160.000 đồng đã chuyển vào tài khoản tạm giữ số: 3949.0.1036410.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm tại Ngân hàng Agribank - Chi nhánh huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng ngày 05/02/2025. Trong đó có: Số tiền 100.000 đồng, do bị cáo bán ma túy; số tiền 1.060.000 đồng, có nguồn gốc do bị cáo lao động mà có. Do vậy, cần tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng, đồng thời hoàn trả lại bị cáo Đ số tiền 1.060.000 đồng, là có căn cứ.
. Về án phí: Xét đơn xin miễn án phí của bị cáo Đ, gia đình bị cáo Đ thuộc hộ cận nghèo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ, khoản 1, Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Đối với đề nghị miễn án phí của bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
. Các nhận định khác:
- Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt, hướng xử lý vật chứng và án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình nghị án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố, bị cáo Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Hình phạt chính:
+ Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ 02 năm 02 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2024.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì thư, mặt trước ghi: "Vật chứng vụ Đ có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày 15/12/2024 tại Nà Mon, Nam Cao, Bảo Lâm, Cao Bằng", mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của Đ và đóng dấu giáp lai của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng;
+ 01(Một) xilanh kim tiêm, đã qua sử dụng;
+ 01(Một) túi nilon, màu xanh;
+ 01(Một) ví giả da màu đen, đã qua sử dụng.
- Trả lại bị cáo Đ:
+ 01(Một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số IMEI 1: 867253059523719, số IMEI 2: 867253059523701 đã qua sử dụng;
+ 01(Một) cân tiểu ly, vỏ bằng gỗ.
- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền: 100.000 đồng, trong tổng số tiền 1.160.000 đồng, đã chuyển vào tài khoản tạm giữ số: 3949.0.1036410.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm tại Lâm tại Ngân hàng Agribank - Chi nhánh huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng ngày 05/02/2025.
- Trả lại bị cáo Đ số tiền: 1.060.000 đồng, trong tổng số tiền 1.160.000 đồng hiện nay đang bị tạm giữ.
(Xác nhận tình trạng vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 23, ngày 28/02/2025).
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh; - VKSND huyện, tỉnh; - Bị cáo (Đ); - Phân trại tạm giam khu vực Bảo Lâm; - Chi cục THADS huyện; - Sở tư pháp tinh Cao Bằng; - UBND xã N; - Lưu hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Nông Đức Thọ |