vanban.org

Bản án 16/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Ma Thị S ly hôn với anh Hoàng Văn T.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Ma Thị S và anh Hoàng Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về án phí: Chị Ma Thị S phải chịu tiền án phí ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000451 ngày 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị Ma Thị S và anh Hoàng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Ma Thị S ly hôn với anh Hoàng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8-LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST
Ngày 22-9-2025
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Trọng Trung

2. Ông Lê Duy Bình

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hồ Hà Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2025 tại phòng xử án Toà án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ma Thị S - Sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Thôn N, xã D, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn T - Sinh năm: 1979.

Địa chỉ: Thôn N, xã D, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 29/7/2025 và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Ma Thị S trình bầy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị có tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Hoàng Văn T vào ngày 20 tháng 02 năm 2005 tại UBND xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai (Nay là xã Dương Quỳ, tỉnh Lào Cai). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi, chửi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình và thôn bản giải hòa nhưng không hàn gắn được. Mâu thuẫn trầm trọng nhất vào tháng 6/2023 vợ chồng chị cãi nhau, vợ chồng đã sống ly thân. Đến nay, chị nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Thị N, sinh ngày 17/5/2001 và Hoàng Văn Q, sinh ngày 06/7/2004. Đến nay, các cháu đều trưởng thành và cháu phát triển bình thường, chị S không đề nghị tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị S không yêu cầu chia tài sản chung và trình bầy không có công nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Hoàng Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định nhưng bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú nên không tống đạt trực tiếp được. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định. Anh T không có bản tự khai trình bầy ý kiến, không đến Toà án làm việc.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lào Cai phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật: về thủ tục Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ và giải quyết trong thời hạn luật định.

Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc. Lời khai của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định các đương sự có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử cho chị Ma Thị S được ly hôn với anh Hoàng Văn T.

Đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai các tài liệu, chứng cứ nhưng không hoà giải được vụ án vì vắng mặt bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Ma Thị S khởi kiện xin ly hôn với anh Hoàng Văn T. Các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại xã Dương Quỳ, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh T là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống chung không hòa thuận, hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị S có nguyện vọng xin ly hôn và mâu thuẫn của anh chị được chính quyền địa phương xác nhận là đúng sự thật. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh tại địa phương: xác định anh T vẫn đăng ký hộ khẩu tại xã Dương Quỳ, tỉnh Lào Cai, anh đi làm ở địa phương khác và thỉnh thoảng vẫn trở về thăm gia đình. Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng anh T không đến Toà án làm việc và không có bản tự khai trình bầy ý kiến. Toà án đã hoãn phiên toà lần thứ nhất do vắng mặt bị đơn, vì vậy việc xét xử vắng mặt bị đơn lần thứ hai không có lý do là phù hợp với quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống không hạnh phúc, vì vậy việc chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Các cháu Hoàng Thị N, sinh ngày 17/5/2001 và Hoàng Văn Q, sinh ngày 06/7/2004 đều đã trên 18 tuổi và cháu phát triển bình thường, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị S không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, chị trình bầy không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Ma Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Xử cho chị Ma Thị S ly hôn với anh Hoàng Văn T.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Ma Thị S và anh Hoàng Văn T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Chị Ma Thị S phải chịu tiền án phí ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000451 ngày 29/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Chị Ma Thị S đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND khu vực 8-Lào Cai (2);

- Phòng THADS khu vực 8-Lào Cai;

- UBND xã D;

- Đương sự (02);

- Lưu HS, TA, VP .

Nguyễn Thị Hoàng Liên CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoàng Liên CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoàng Liên

Cỡ chữ