- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Linh.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2025 “V/v tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kiều Diễm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tâm
Ông Nguyễn Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quốc Đại - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 233/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, về việc tranh chấp ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2001, (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ấp P, xã Định Thành, tỉnh Cà Mau).
Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 25/6/2025.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Linh, sinh năm 1988, (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ấp P, xã Định Thành, tỉnh Cà Mau).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/5/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Linh tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân xã A cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/9/2019. Trong thời gian chung sống với nhau cũng thường xuyên bất đồng quan điểm, phát sinh nhiều mâu thuẫn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, hiện nay chị và anh Nguyễn Văn Linh đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay từ khi sống ly thân anh và chị không có hàn gắn tình cảm. Nay chị không còn tình cảm với anh Nguyễn Văn Linh nên yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Tôi và anh Nguyễn Văn Linh có 01 con chung tên Lê Minh Khương, sinh ngày 03/4/2019. Khi ly hôn tôi đồng ý giao lại Lê Minh Khương, sinh ngày 03/4/2019 cho anh Nguyễn Văn Linh chăm sóc và giáo dục. Tôi không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn Linh xác định không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Linh trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 14/7/2025:
Về hôn nhân: Anh và chị Trân tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân xã A cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/9/2019. Trong thời gian chung sống vợ chồng cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn gì lớn, nhưng thời gian gần đây vợ anh tụ tập đi chơi anh đã khuyên rất nhiều lần nhưng không được, Hiện nay anh và chị đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay, anh cũng muốn hàn gắn hôn nhân nhưng không được, hiện nay tôi không đồng ý theo yêu cầu ly hôn của chị Trân, do tôi còn rất thương vợ nên tôi không đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh Nguyễn Văn Linh xác định anh và chị Trân có 01 con chung tên Lê Minh Khương, sinh ngày 03/4/2019. Khi ly hôn tôi đồng ý nuôi con và không yêu cầu chị Trân cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị Trân tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cà Mau trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71, còn bị đơn không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 28, 35, 39, 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn Linh. Về con chung: Giao cháu Lê Minh Khương, sinh ngày 03/4/2019 lại cho anh Linh tiếp tục chăm sóc và anh Linh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Trân phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Linh, anh Nguyễn Văn Linh hiện nay ở Ấp P, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ấp P, xã Định Thành, tỉnh Cà Mau) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau) theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Chị Nguyễn Thị T có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và anh Nguyễn Văn Linh được triệu tập nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Linh và Chị Nguyễn Thị T.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn với anh anh Nguyễn Văn Linh và anh Linh không đồng ý ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn Linh xác định chị và anh tự nguyện chung sống với nhau vào 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân xã A cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/9/2019 nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn Linh xác định trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh chị đã ly thân với nhau; mặc dù anh Linh muốn hàn gắn hôn nhân nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh Linh tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh Linh vắng mặt không có lý do thể hiện anh Linh không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Như vậy, có căn cứ xác định cuộc sống hôn nhân giữa chị Trân và anh Linh đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn Chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn Linh.
[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn Linh thống nhất xác định chị và anh có 01 con chung tên là Lê Minh Khương, sinh ngày 03/4/2019. Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn Linh thống nhất thỏa thuận giao con chung là tên là Lê Minh Khương, sinh ngày 03/4/2019 cho anh Nguyễn Văn Linh tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, cần tiếp tục giao em Lê Minh Khương, sinh ngày 03/4/2019 cho anh Nguyễn Văn Linh tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Hai bên không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và không có ý kiến nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn Linh xác định, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[7] Chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Linh nên chị Trânphải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, khoản 1 Điều 81, Điều 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Linh.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Minh Khương, sinh ngày 03/4/2019 cho anh Nguyễn Văn Linh tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Văn Linh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng Chị Nguyễn Thị T phải chịu. Chị Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006832 ngày 21/5/2025 được chuyển thu án phí 300.000 đồng.
5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 8 – Cà Mau; - THADS tỉnh Cà Mau; - UBND xã Định Thành; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Kiều Diễm |