vanban.org

Bản án 16/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Phan Thị Tú H được ly hôn với ông Đào Trần Đ.

Về con chung: Giao cháu Đào Ngọc V, sinh ngày 27/01/2018 cho bà Phan Thị Tú H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Đào Trần Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Đào Ngọc V mà không ai được cản trở. Về án phí: Bà Phan Thị Tú H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 18/11/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Tú H-Đào Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Phan Thị Tú H được ly hôn với ông Đào Trần Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 5 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Xuân Vĩnh

Ông Trịnh Hữu Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 419/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Tú H, sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp 7, xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện tại: Ấp L, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Đào Trần Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 7, xã K, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Phan Thị Tú H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Đào Trần Đ chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 05/7/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống thời gian gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, không có sự quan tâm tôn trọng tin tưởng với nhau, thường xuyên xảy ra cự cãi, chung sống không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Hiện tại vợ chồng đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn lại được nên bà yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Đào Ngọc V, sinh ngày 27/01/2018. Hiện tại bà đang nuôi dưỡng cháu V. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu V, bà không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung là không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông Đức.

Về hôn nhân: Bà Phan Thị Tú H và ông Đào Trần Đ chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 05/7/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (đăng ký kết hôn tại nơi cư trú trước đây của bà H). Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Đ được xác lập hợp pháp, hai người tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống thời gian gần đây giữa bà H và ông Đ có phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến trong cuộc sống, không có sự quan tâm tôn trọng tin tưởng với nhau, thường xuyên xảy ra cự cãi, chung sống không có hạnh phúc nên hai người đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay là thực tế có diễn ra. Kể từ khi xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân đến nay với thời gian dài mà hai bên không thể dàn xếp, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hai bên thoả thuận hàn gắn nhưng không có kết quả, do ông Đ không tham gia hòa giải và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà H. Từ những vấn đề nói trên, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho hai người được ly hôn là phù hợp. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông Đ là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Bà H và ông Đ có một con chung là cháu Đào Ngọc V, sinh ngày 27/01/2018. Cháu V hiện chưa thành niên, bà H đang nuôi dưỡng cháu vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, cuộc sống của cháu đã ổn định, đồng thời cháu cũng có nguyện vọng được chung sống với mẹ là bà H khi cha mẹ của cháu ly hôn. Do đó, giao cháu V cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu V mà không ai được cản trở. Bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không xét.

Về tài sản chung: Bà H và ông Đ không ai yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 18/11/2024, bà H nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu án phí. Ông Đ không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Bà Phan Thị Tú H được ly hôn với ông Đào Trần Đ.

Về con chung: Giao cháu Đào Ngọc V, sinh ngày 27/01/2018 cho bà Phan Thị Tú H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Đào Trần Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Đào Ngọc V mà không ai được cản trở.

Về án phí: Bà Phan Thị Tú H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 18/11/2024, bà Phan Thị Tú H nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006826 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Phan Thị Tú H có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đào Trần Đ vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ