vanban.org

Bản án 16/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thùy L.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Thùy L được ly hôn anh Hồ Diên P. Về con chung: Giao con chung Hồ Diên Minh Q, sinh ngày 11/3/2022 cho chị Hồ Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thùy L.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20/3/2025
V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nghệ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Thu Trang và bà Nguyễn Thị Hồng Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thanh Huyền, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 324/2024/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Thùy L, sinh năm 2003. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

Nơi ĐKHKTT: Xóm G, xã M (xã Q cũ), huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Chỗ ở hiện nay: Xóm V, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Anh Hồ Diên P, sinh năm 1996. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Xóm G, xã M (xã Q cũ), huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/11/2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị Thùy L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Diên P có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 23/12/2022 tại UBND xã Q (nay là xã M), huyện Q, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn tự nguyện. Vợ chồng chung sống với nhau được hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh P không chăm lo cuộc sống gia đình, chơi cờ bạc, vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị đã cố gắng hàn gắn trao đổi để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có hiệu quả. Nhận thấy đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Hồ Diên P.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hồ Diên Minh Q, sinh ngày 11/3/2022. Hiện con chung đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Chị yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) từ tháng 01/2025 cho đến khi con chung 18 tuổi trưởng thành.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn anh Hồ Diên P, anh P đều vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án.

Kết quả xác minh tại UBND xã M cho biết: Chị Hồ Thị Thùy L, sinh ngày 20/10/2003 và anh Hồ Diên P, sinh ngày 09/6/1996 đều có địa chỉ tại xóm G, xã M (xã Q cũ), huyện Q, tỉnh Nghệ An có đăng ký kết hôn vào ngày 23/12/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Q (nay là xã M), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn của chị L và anh P đảm bảo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, chị L và anh P có 01 con chung là Hồ Diên Minh Q, sinh ngày 11/3/2022. Quá trình chung sống giữa chị L và anh P có mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm được vì không ai yêu cầu hòa giải tại cơ sở. Chị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về con chung, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử và thư ký phiên toà đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS năm 2015, bị đơn không thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS năm 2015.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Đề nghị xử:

Về tình cảm: Cho chị Hồ Thị Thùy L được ly hôn anh Hồ Diên P.

Về con chung: Giao con chung Hồ Diên Minh Q, sinh ngày 11/3/2022 cho chị Hồ Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh Hồ Diên P trợ cấp hàng tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) cho cháu Q cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Anh P có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng:

Chị Hồ Thị Thùy L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Hồ Diên P, có nguyện vọng nuôi con chung, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Anh Hồ Diên P có nơi thường trú tại xóm G, xã M (xã Q cũ), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Hồ Thị Thùy L và bị đơn anh Hồ Diên P.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Hồ Thị Thùy L và anh Hồ Diên P là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống giữa anh chị có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chung sống không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Quá trình giải quyết vụ án, chị L kiên quyết ly hôn chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho chị Hồ Thị Thùy L được ly hôn với anh Hồ Diên P.

. Về tranh chấp nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị L có nguyện vọng được nuôi con chung là Hồ Diên Minh Q. Nguyện vọng được nuôi con của chị L là chính đáng, thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ đối với con chung. Hiện cháu còn nhỏ, cần nhiều hơn sự chăm sóc, nuôi nấng của mẹ. Từ khi vợ chồng mâu thuẫn chị L là người trực tiếp nuôi con chung, vẫn đảm bảo các điều kiện để con chung phát triển về thể chất cũng như tinh thần. Do đó cần tiếp tục giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án chị L yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) kể từ tháng 01/2025 đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy cấp dưỡng là trách nhiệm và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Xét thấy mức cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) là phù hợp với nhu cầu thiết yếu của con chung do đó cần chấp nhận yêu cầu về cấp dưỡng của chị L.

Về tài sản: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét

Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điềuu 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thùy L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị Thùy L được ly hôn anh Hồ Diên P.

2. Về con chung: Giao con chung Hồ Diên Minh Q, sinh ngày 11/3/2022 cho chị Hồ Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Hồ Diên P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) kể từ tháng 01/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản: Chị Hồ Thị Thùy L và anh Hồ Diên P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hồ Thị Thùy L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên lai số 0005892 ngày 19/11/2024. Anh Hồ Diên P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hồ Thị Thùy L, bị đơn anh Hồ Diên P có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ