vanban.org

Bản án 16/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H về tranh chấp hợp đồng tín dụng. Buộc bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 89.352.939 (tám mươi chín triệu ba trăm năm mươi hai nghìn chín tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nga6hn hàng - HƯơng"
  • Tòa quyết gì? Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
  • Căn cứ chính? Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 16/2025/DS-ST
Ngày: 18-7-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Chu Thị Thanh Thủy. 2. Ông Võ Cao Trí. Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Kim Ngân, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16

- Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 1) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 244/2025/TLST-DS ngày 5 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2025/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 140/2025/QĐST-DS ngày 19/6/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; trụ sở: 266-268 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường X, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1973; thường trú: số B M, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền số 216G/2025/UQ-TGĐ ngày 20/01/2025). Có mặt.

2/ Bị đơn: bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H, sinh năm: 1999; địa chỉ cư trú: Số C đường số F, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 25/11/2019, bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H có ký hợp đồng yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế với Ngân hàng thương mại cổ phần S (Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 36.000.000 đồng với mục đích dùng cá nhân, sau khi được cấp Thẻ tín dụng bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 190.113.106 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã sử dụng thẻ và đã trả được 170.915.875 đồng. Bà H vẫn không có thiện chí trả nợ, không thanh toán cho ngân hàng, mặc dù ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H thanh toán nợ tính đến ngày 18/7/2025 là 89.352.939 đồng, bao gồm: nợ gốc 36.928.729 đồng, lãi quá hạn 52.424.210 đồng. Đồng thời yêu cầu bà H tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 19/7/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

- Đối với bị đơn bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án yêu cầu bị đơn có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, bị đơn không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

+ Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 19/6/2025 và ngày 18/7/2025 nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng.

+ Về nội dung vụ án đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 26/5/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, do vậy vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Về nội dung: Xét yêu cầu phát hành thẻ tín dụng ngày 09/06/2021 giữa Ngân hàng với bà H thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H sử dụng thẻ tín dụng thực hiện các giao dịch với số tiền 190.113.106 đồng. Từ ngày 23/5/2022, bà H không thanh toán. Do đó, từ ngày 22/5/2022, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ của bà H sang nợ quá hạn. Như vậy, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, lãi và các khoản phí theo thỏa thuận. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H phải trả số tiền 89.352.939 đồng, bao gồm: nợ gốc 36.928.729 đồng, lãi quá hạn 52.424.210 đồng tính đến ngày 18/7/2025 là có căn cứ.

Kể từ ngày 19/7/2025, bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng;

Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 89.352.939 (tám mươi chín triệu ba trăm năm mươi hai nghìn chín trăm ba mươi chín) đồng, bao gồm: nợ gốc 36.928.729 (ba mươi sáu triệu chín trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm hai mươi chín) đồng, lãi quá hạn 52.424.210 (năm mươi hai triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn hai trăm mười) đồng, tính đến ngày 18/7/2025.

Tiền lãi được tiếp tục tính từ ngày 19/7/2025 cho đến khi bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H thanh toán xong các khoản nợ theo yêu cầu phát hành thẻ tín dụng ngày 25/11/2019.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Hoàng Quỳnh H phải chịu 4.467.000 (bốn triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 2.008.191 (hai triệu không trăm lẻ tám nghìn một trăm chín mươi mốt) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008190 ngày 29/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ