vanban.org

Bản án 16/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V Buộc ông Lê Tấn T trả cho Ngân V tổng số tiền 530.328.200 đồng, trong đó: nợ gốc 377.217.074 đồng, lãi trong hạn 38.015.996 đồng, lãi quá hạn 115.095.130 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng V - Lê Tấn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/DS-ST
Ngày 23 tháng 7 năm 2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trương

2. Ông Đặng Thành Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Mộng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Truyền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 và 23 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ. Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 111/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST - DS ngày 25 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng V

Địa chỉ: Tầng 1, phường B, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ hiện nay: số 176, đường N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật Ngân hàng V: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng V

Người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng V: Bà Trần Thị Thu H – Chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ Ngân hàng V

Người đại diện tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thảo T – Chức vụ: Cán bộ Ngân hàng V (có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Tấn T (có mặt)

Trú tại: ấp L, xã Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

Địa chỉ hiện nay: ấp L, xã Đ, thành phố Cần Thơ

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ kiên quan: Ông Nguyễn Văn Út E (vắng mặt)

Trú tại: số 44/9, đường T, phường A, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Địa chỉ hiện nay: số 44/9, đường T, phường C, thành phố Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng V trình bày:

Ngày 30/03/2022, Ngân hàng V đã ký với ông Lê Tấn T hợp đồng tín dụng để cho ông Lê Tấn T vay số tiền 494.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô tải (có mui) mới 100%, kinh doanh, nhãn hiệu DOTHANH IZ650, biển số 95H-008.76 theo HĐMB số 261/HDMB/TV-22 ngày 14/03/2022, giữa bên được cấp tín dụng và Công ty TNHH Ô Tô Vũ Trường; Thời hạn vay: 72 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 31/03/2028; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,10%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4.1%/năm; Thời gian trả nợ gốc: hàng tháng vào ngày 05, kỳ trả đầu tiên 05/04/2022, số tiền trả mỗi kỳ 6.861.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ. Trả nợ lãi: hàng tháng vào ngày 05, trả phí: theo quy định của Ngân hàng V từng thời kỳ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ông Lê Tấn T có thế chấp tài sản là xe ô tô tải (có mui), mới 100%, nhãn hiệu DOTHANH IZ650, biển số 95H-008.76.

Tính đến ngày 10/6/2025 ông T đã thanh toán cho Ngân hàng V số tiền 179.793.567 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông T thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ (tính đến ngày 10/6/2025) là 521.678.044 đồng. Trong đó: Nợ gốc 377.217.074 đồng, nợ lãi trong hạn: 38.015.996 đồng, lãi quá hạn 106.444.974 đồng.

Đề nghị tiếp tục tính lãi quá hạn kể từ ngày 11/6/2025 cho đến khi ông T thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký.

Trong trường hợp ông Lê Tấn T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V, thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: Xe ô tô nhãn hiệu: DOTHANH, số loại: IZ650, biển kiểm soát 95H-008.76 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 95004151 do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hậu Giang cấp ngày 30/03/2022 cho ông Lê Tấn T. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng V theo Hợp đồng thế chấp số 4596216.22 ngày 30/03/2022 và tài sản bảo đảm trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật.

Tại các lời khai của bị đơn ông Lê Tấn T trình bày: Thống nhất lời trình bày của đại diện Ngân hàng V: Năm 2022 ông có vay Ngân hàng số tiền 494.000.000 đồng. Tính đến ngày 10/6/2025 đã thanh toán cho Ngân hàng V số tiền 179.793.567 đồng. Nay ông đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền (tính đến ngày 10/6/2025) là 521.678.044 đồng. Trong đó: Nợ gốc 377.217.074 đồng, nợ lãi trong hạn: 38.015.996 đồng, lãi quá hạn 106.444.974 đồng. Và đồng ý tiếp tục tính lãi quá hạn kể từ ngày 11/6/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký.

Trong trường hợp ông không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngan hàng V thì đồng ý phát mãi tài sản bảo đảm, cụ thể là: Xe ô tô nhãn hiệu: DOTHANH, số loại: IZ650, biển kiểm soát 95H-008.76 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 95004151 do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hậu Giang cấp ngày 30/03/2022 cho ông Lê Tấn T. Nhưng đối với chiếc xe năm 2023 ông đã bán xe cho ông Nguyễn Văn Út E, có làm hợp đồng ủy quyền giữ ông và ông Út E. Khi bán xe cho ông Út E không thỏa thuận cụ thể số tiền là bao nhiêu, chỉ thỏa thuận ông Út E đưa trước cho ông T 180.000.000 đồng và ông Út E phải trả thêm số tiền mà ông T còn nợ Ngân hàng. Khi giao nhận xe và giao tiền chỉ ghi nội dung ông T có nhận của ông Út E 180.000.000 đồng, tờ ghi nội dung làm 01 tờ ông Út E giữ, ông T không giữ. Đối với thỏa thuận không có ghi nội dung nào khác.

Hiện tại chiếc xe ông Út E đang quản lý, sử dụng. Khi giao xe chỉ làm giấy ủy quyền và giao giấy đăng ký xe bản phôtô. Còn giấy đăng ký xe bản chính Ngân hàng giữ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Út E trình bày:

Ngày 13/7/2023 giữa ông và ông T ký hợp đồng uỷ quyền với nội dung ràng buộc trách nhiệm đối với khoản vay 180.000.000 đồng mà ông T vay của ông, khi nào ông T không trả nợ thì ông được toàn quyền quản lý sử dụng xe ô tô nhãn hiệu: DOTHANH, số loại: IZ650, biển kiểm soát 95H-008.76. Đến nay ông chưa nhận xe. Ông không yêu cầu gì trong vụ án và đề nghị giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng. Nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Căn cứ vào hồ sơ vay vốn của Ngân hàng V thể hiện bị đơn có vay số tiền là 494.000.000 đồng của Ngân hàng để thanh toán tiền mua xe ô tô. Hợp đồng tín dụng được ký kết vào ngày 30/3/2022. Thỏa thuận thời hạn cho vay là 72 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 31/03/2028; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,10%/năm, đây là lãi suất ưu đãi và có sự điều chỉnh theo thoả thuận của hợp đồng, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 05/9/2023, nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm hợp đồng. Nên Ngân hàng yêu cầu ông T thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 16/7/2025 là 530.328.200 đồng, trong đó: nợ gốc 377.217.074 đồng, nợ lãi trong hạn: 38.015.996 đồng, lãi quá hạn 115.095.130 đồng là phù hợp.

Để đảm bảo nợ vay bị đơn thế chấp xe ô tô nhãn hiệu: DOTHANH, số loại: IZ650, biển kiểm soát 95H-008.76 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 95004151 do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hậu Giang cấp ngày 30/03/2022 cho ông Lê Tấn T. Hợp đồng thế chấp được đăng ký thế chấp tại trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 31/3/2022 là đúng với thoả thuận tại mục 8.0 của hợp đồng thế chấp và phù hợp với khoản 2 Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ. Nên hợp đồng thế chấp số 459621622 ngày 30/3/2022 có giá trị pháp lý.

Bị đơn và ông Út E cho rằng hai bên đã ký hợp đồng uỷ quyền để ông Út E được toàn quyền quản lý sử dụng, cho thuê, cho mượn xe ô tô nhãn hiệu: DOTHANH, số loại: IZ650, biển kiểm soát 95H-008.76 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 95004151 do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hậu Giang cấp ngày 30/03/2022 cho ông Lê Tấn T. Và cung cấp hợp đồng uỷ quyền được công chứng ngày 13/7/2023. Tuy nhiên hợp đồng uỷ quyền này không có ý kiến của Ngân hàng V là không đúng theo mục 10.4 của hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa Ngân hàng VIB với ông T. Do đó hợp đồng uỷ quyền này không có giá trị pháp lý.

Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại số nợ vay và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 16/7/2025 là 530.328.200 đồng, nếu bị đơn không thanh toán tất nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để đảm bảo việc trả nợ là phù hợp.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu phần án phí có giá ngạch là 25.213.128 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng: Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V

Buộc ông Lê Tấn T trả cho Ngân V tổng số tiền 530.328.200 đồng, trong đó: nợ gốc 377.217.074 đồng, lãi trong hạn 38.015.996 đồng, lãi quá hạn 115.095.130 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 16/7/2025 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trong trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không dứt nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp số 459621622 được ký kết vào ngày 30/3/2022 giữa ông Lê Tấn T với Ngân hàng V

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Tấn T phải chịu 25.213.128 đồng. Hoàn trả lại cho Ngân hàng V 11.900.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai số 0003659 ngày 16/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ