vanban.org

Bản án 16/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 06/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

[2] Xử phạt: Trần Thị N 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/02/2024). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST
Ng Ngày 06 - 02 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huê và bà Nguyễn Thị Chương.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Liên - là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024, đối với các bị cáo:

1/ Trần Thị N, sinh năm 1967; tại: tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Nhà số 3, ngõ 162, tổ 11, phường HBT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh Á và bà Trần Thị H (tức D) (đều đã chết); chồng: Đoàn Văn T, sinh năm 1966; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/7/2004 Công an thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi ghi đề thuê bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 1.000.000 đồng; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/10/2023 đến ngày 28/10/2023 bị cáo tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2/ Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; tại: tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Số nhà 1, ngõ 162, tổ 11, phường HBT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá K (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1942; chồng: Đoàn Văn K (đã chết); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/10/2023 đến ngày 28/10/2023 bị cáo tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Chị Vũ Thị Như H, sinh năm 1962; trú tại: Tổ 2, phường THĐ, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

2/ Anh Đỗ Tiến S, sinh năm 1960; trú tại: Tổ 3, phường THĐ, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

3/ Chị Phạm Thị N, sinh năm 1963; trú tại: Số nhà 196, đường TTP, tổ 10, phường HBT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

4/ Anh Hà Văn V, sinh năm 1965; trú tại: Thôn TT, xã LC, huyện TL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 17/10/2023, tổ công tác của Đội Cảnh sát hình sự

- Công an thành phố Phủ Lý phối hợp với Công an phường Trần Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý tuần tra, phát hiện Vũ Thị Như H đang bán số lô, số đề trái phép cho một người nam giới tại nhà H.

Quá trình điều tra xác định: Nhằm mục đích hưởng tiền hoa hồng từ việc ghi bán số lô, số đề cho người chơi, Vũ Thị Như H nhận bán số lô cho người chơi rồi chuyển lại cho Trần Thị N để hưởng tiền chênh lệch. Vũ Thị Như H bán cho người chơi với giá 22.000đ /01 điểm lô rồi chuyển lại cho N với giá 21.900đ và được hưởng 100đ/01 điểm lô. Đối với số đề H được hưởng 27% tổng số tiền bán số đề cho người chơi rồi chuyển lại cho N.

Khoảng 17 giờ 28 phút cùng ngày, H sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu đỏ, số thuê bao: 0827.994.986, chụp ảnh tờ bảng lô, đề rồi sử dụng tài khoản Zalo “Hưng Tuyến” gửi tin nhắn hình ảnh bảng lô, đề đến tài khoản Zalo “Re Mi” của N. Đến 17 giờ 34 phút cùng ngày, N nhắn lại “OK2t” là đồng ý nhận bảng lô, đề của H. Ngày 17/10/2023, H bán các số lô, số đề cho nhiều người chơi, tổng số điểm lô là 18 điểm x 22.000đ = 396.000đ; tổng số tiền bán số đề là 997.000đ. Tổng số tiền đánh bạc của Vũ Thị Như H trong ngày 17/10/2023 là 1.393.000đ. Sau đó H mua lại các số lô, số đề trên của N tương đương 18 x 21.900 = 394.200đ, số tiền đề là 997.000đ. Tổng số tiền N bán số lô, số đề cho H trong ngày 17/10/2023 là 1.391.200đ. Do hành vi của H bị phát hiện trước thời điểm mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc cùng ngày nên các số lô, số đề mà H mua của Trần Thị N không tính tiền trúng thưởng nên số tiền đánh bạc của N với H là 1.391.200đ.

Ngày 17/10/2023, Trần Thị N sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi Note 10 JE, màu ghi xám số thuê bao: 0814.523.356 và sử dụng tài khoản Zalo “Re Mi” để bán số lô, số đề cho: Vũ Thị Như H; Đỗ Tiến S; Phạm Thị N; người sử dụng tài khoản Zalo “Bích Làn”; Hà Văn V; Nguyễn Thị T cụ thể như sau:

- Đỗ Tiến S sử dụng tài khoản Zalo “Sự Đỗ Tiến” đăng ký bằng số điện thoại 0986.873.233 mua của N số lô, số đề với số tiền là 2.000.000đ. S trúng thưởng các số lô với số tiền 2.400.000đ. Số tiền đánh bạc của N với S ngày 17/10/2023 là 4.400.000đ .

- Phạm Thị N sử dụng tài khoản Zalo “Hoa Hồng” mua các số lô, số đề, lô xiên, ba càng của Trần Thị N với tổng số tiền là 2.662.000đ. N trúng thưởng với số tiền là 2.160.000đ. Số tiền đánh bạc của Trần Thị N với Phạm Thị N trong ngày 17/10/2023 là 2.662.000đ + 2.160.000đ = 4.822.000đ.

- Một người sử dụng tài khoản Zalo “Bích Làn” mua số lô, số đề, lô xiên, ba càng của Trần Thị N với tổng số tiền là 1.984.000đ. Người này trúng thưởng 830.000đ. Số tiền đánh bạc của Trần Thị N với người sử dụng tài khoản Zalo “Bích Làn” trong ngày 17/10/2023 là 2.814.000đ.

- Hà Văn V sử dụng điện thoại gọi điện đến số điện thoại 0814.523.356 của Trần Thị N để mua các số lô, số đề với tổng số tiền là 2.900.000đ. Hà Văn V trúng thưởng 2.000.000đ. Tổng số tiền Trần Thị N đánh bạc với Hà Văn V trong ngày 17/10/2023 là 4.900.000đ.

- Nguyễn Thị T sử dụng tài khoản Zalo “NguyễnT T” đăng ký bằng số điện thoại 0357.335.421 mua của Trần Thị N các số đề với tổng số tiền là 4.000.000đ. T trúng thưởng 14.000.000đ. Tổng số tiền N đánh bạc với T trong ngày 17/10/2023 là 18.000.000đ.

Như vậy, tổng số tiền Trần Thị N sử dụng để đánh bạc trong ngày 17/10/2023 là: 36.327.200đ. Ngày 17/10/2023, N chưa thanh toán tiền đánh bạc với bất kỳ ai.

* Quy luật chơi và tỷ lệ được thua như sau:

Cách thức chơi và tính thắng thua như sau: Đối với hình thức số đề người chơi lựa chọn bộ số gồm hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 để mua với số tiền tương ứng. Đối với hình thức số lô người chơi sẽ chọn bộ số gồm hai chữ số để mua và được tính theo điểm. Đối với hình thức xiên 2, 3 người chơi lựa chọn 2,3 bộ số bất kỳ mỗi bộ số gồm hai chữ số từ 00 đến 99 (không được trùng nhau) để mua. Tất cả các số lô, số đề, xiên 2,3 đều được so với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày hôm đó. Đối với số đề người chơi chỉ được so kết quả với hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trùng được tính là trúng thưởng với tỉ lệ trả thưởng: Số đề 1 ăn 70 lần số tiền mua; Đối với hình thức số lô thì được so với hai số cuối của tất cả 27 giải nếu trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào được tính là trúng thưởng và được lĩnh thưởng tương ứng với mỗi điểm lô được lĩnh thưởng số tiền: 80.000 đồng, trong hình thức chơi số lô nếu bộ số mà người chơi đã mua trùng với hai số cuối của nhiều giải thì được lĩnh thưởng tương ứng với từng giải trùng đó; Đối với cặp xiên 2,3 được so với hai số cuối của 27 giải nếu 2,3 bộ số đã mua trùng với hai số cuối của 27 giải được tính là trúng thưởng với tỉ lệ trả thưởng: Xiên 2 một ăn 10 lần, xiên 3 một ăn 45 lần tương ứng với số tiền người chơi đã mua. Ba càng 1 ăn 400 lần tương ứng với số tiền người chơi đã mua.

* Vật chứng tài sản đã thu giữ gồm:

- 01 tờ giấy A4, một mặt có in dòng kẻ màu đen, in các số màu đen từ 00 đến 99, có viết các số, chữ bằng mực màu xanh, mặt còn lại có ghi chữ số bằng mực bút bi màu xanh và có chữ ký của Vũ Thị Như H.

- 01 chiếc phong bì thư ký hiệu “V3”, còn nguyên vẹn niêm phong, bên trong có một chiếc bút bi vỏ bằng nhựa màu xanh dài 15cm, bạc, ruột bút mực xanh và 10 tờ giấy trắng kích thước (10x7,5)cm.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu đỏ lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0827.994.986 của Vũ Thị Như H.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu vàng, lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0986.873.233 của Đỗ Tiến S.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note10JE, màu ghi xám lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0814.523.356 của Trần Thị N.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu vàng lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0357.335.421 của Nguyễn Thị T.

- Số tiền 2.000.000đ của Vũ Thị Như H.

Từ nội dung trên, bản cáo trạng số 13/CT-VKS-PL ngày 15/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố các bị cáo Trần Thị N và Nguyễn Thị T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trần Thị N và Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo:

Trần Thị N từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Nguyễn Thị T từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Giao các bị cáo Trần Thị N và Nguyễn Thị T cho Uỷ ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng Điều 35; khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự: phạt bổ sung các bị cáo Trần Thị N và Nguyễn Thị T mỗi bị cáo từ 1.000.000đ đến 3.000.000đ sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Truy thu của Trần Thị N số tiền 21.390.000đ, truy thu của Nguyễn Thị T 4.000.000đ sung Ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tiếp tục lưu giữ 01 tờ giấy A4, một mặt có in dòng kẻ màu đen, in các số màu đen từ 00 đến 99, có viết các số, chữ bằng mực màu xanh, mặt còn lại có ghi chữ số bằng mực bút bi màu xanh và có chữ ký của Vũ Thị Như H; 01 đĩa DVD có chứa 698MB dung lượng dữ liệu được gửi kèm theo cùng Kết luận giám định số: 1737/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nam Định, bên trong lưu trữ dữ liệu có liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị N.

- Tich thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi vỏ bằng nhựa màu xanh dài 15cm, bạc, ruột bút mực xanh và 10 tờ giấy trắng kích thước (10x7,5)cm, không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note10JE, màu ghi xám lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0814.523.356 của Trần Thị N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu vàng lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0357.335.421 của Nguyễn Thị T.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không tranh luận và không có lời tự bào chữa, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

Đánh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/10/2023, tại tổ 11, phường HBT, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Trần Thị N đã đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số đề cho Nguyễn Thị T với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 18.000.000đ. Ngoài ra, N còn đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho Vũ Thị Như H, Đỗ Tiến S, Phạm Thị N, Hà Văn V và một số người khác. Tổng số tiền Trần Thị N sử dụng để đánh bạc trong ngày 17/10/2023 là 36.327.000đ.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Thị N và Nguyễn Thị T đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy: Trần Thị N là người trực tiếp bán số lô, số đề và trả thưởng cho người chơi nên giữ vai trò thứ nhất, Nguyễn Thị T trực tiếp mua số đề của N nên đồng phạm với N về hành vi đánh bạc và giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo luôn thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo T là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo N từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Ghi đề” đến nay đã được xóa.

Đánh giá về hình phạt:

* Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những xâm phạm đến trật tự công cộng nói chung mà còn trực tiếp làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội cũng như nếp sống văn minh đô thị nói riêng trên địa bàn thành phố Phủ Lý. Hành vi của các bị cáo còn làm sai lệch về chuẩn mực đạo đức, lối sống và nhân cách con người, gây bất bình trong nhân dân cũng như làm ảnh hưởng đến chính cuộc sống của các bị cáo. Hành vi này nếu không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời tất yếu sẽ kéo theo nhiều hệ lụy xấu cho gia đình và xã hội.

Các bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức pháp luật và thấy rõ được tác hại của tệ nạn cờ bạc đối với cuộc sống, nhưng chỉ vì ham mê đỏ đen, muốn có tiền nhanh chóng nên đã tự đưa mình vào con đường phạm tội.

Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh bằng một hình phạt nhất định, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Cân nhắc tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú, có lý lịch rõ ràng, do vậy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo các bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu, biết ăn năn hối cải.

* Hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của các bị cáo là trục lợi bất chính về kinh tế, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nhất là đối với tội phạm này nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 35; khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 tờ giấy A4, một mặt có in dòng kẻ màu đen, in các số màu đen từ 00 đến 99, có viết các số, chữ bằng mực màu xanh, mặt còn lại có ghi chữ số bằng mực bút bi màu xanh và có chữ ký của Vũ Thị Như H; 01 đĩa DVD có chứa dữ liệu được gửi kèm theo Kết luận giám định số 1737/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định được lưu trong hồ sơ vụ án làm căn cứ giải quyết vụ án.

- Đối với 01 chiếc phong bì thư ký hiệu “V3”, bên trong có một chiếc bút bi vỏ bằng nhựa màu xanh dài 15cm, bạc, ruột bút mực xanh và 10 tờ giấy trắng kích thước (10x7,5)cm không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu đỏ lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0827.994.986 của Vũ Thị Như H được sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc đã được xử lý trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 506/QĐ-XPHC ngày 23/12/2023 của Công an thành phố Phủ Lý nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu vàng, lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0357.335.421 của Nguyễn Thị T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note10JE, màu ghi xám lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0814.523.356 của Trần Thị N. Các bị cáo sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu vàng lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0986.873.233 của Đỗ Tiến S được sử dụng để thực hiện hành vi đánh bạc trái phép đã được xử lý trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 507/QĐ-XPHC ngày 23/12/2023 của Công an thành phố Phủ Lý nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

- Đối với số tiền 2.000.000đ thu giữ của Vũ Thị Như H trong đó có 1.393.000 đồng là tiền H bán số lô số đề trái phép đã được tịch thu sung Ngân sách Nhà nước trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 506/QĐ-XPHC ngày 23/12/2023 của Công an thành phố Phủ Lý. Số tiền còn lại là 607.000 đồng không liên quan đến hành vi bán số lô, số đề, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại cho Vũ Thị Như H là phù hợp pháp luật.

Về truy thu số tiền thu lời bất chính:

Ngày 17/10/2023 các bị cáo sử dụng số tiền để đánh bạc, cụ thể: Nguyễn Thị T sử dụng 4.000.000đ để mua số lô số đề của N; Trần Thị N sử dụng số tiền 14.000.000đ để trả thưởng cho T, sử dụng số tiền 2.000.000đ để trả thưởng cho Hà Thị V, sử dụng số tiền 830.000đ để trả thưởng cho tài khoản zalo “Bích Làn”, sử dụng 2.160.000đ để trả thưởng cho Phạm Thị N, sử dụng 2.400.000đ để trả thưởng cho Đỗ Tiến S. Do số tiền trên chưa được thanh toán nên cần truy thu của T và N để sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với Hà Thị V sử dụng 2.900.000đ, Phạm Thị N sử dụng 2.662.000đ, Đỗ Tiến S sử dụng 2.000.000đ để mua số lô số đề của Trần Thị N đã được xử lý tịch thu số tiền trên trong các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Công an thành phố Phủ Lý đối với Hà Thị V, Phạm Thị N, Đỗ Tiến S, nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Các tình tiết khác:

Đối với Vũ Thị Như H: Ngày 17/10/2023, H có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho người chơi rồi chuyển lại cho Trần Thị N để hưởng hoa hồng, với số tiền dưới mức tối thiểu bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bản thân H vào các năm 2014 và 2015 bị Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc đã được xóa, bản thân chưa bị kết án về các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do vậy, hành vi bán số lô, số đề ngày 17/10/2023 của Vũ Thị Như H không cấu thành tội phạm. Ngày 23/12/2023, Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Thị Như H là có căn cứ.

Đối với Đỗ Tiến S, Hà Văn V có hành vi mua số lô, số đề trái phép của Trần Thị N ngày 17/10/2023. Tuy nhiên số tiền đánh bạc đều dưới mức tối thiểu bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bản thân S, V chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do vậy, hành vi mua số lô, số đề ngày 17/10/2023 của S, V không cấu thành tội phạm. Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Tiến S, Hà Văn V là có căn cứ.

Đối với Phạm Thị N có hành vi mua số lô, số đề trái phép của Trần Thị N với số tiền đánh bạc xác định là 4.882.000đ dưới mức tối thiểu bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Năm 2014, N bị Công an thành phố Phủ Lý ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc đến nay đã hết thời hiệu thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bản thân N chưa bị kết án về các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc do vậy, hành vi mua số lô, số đề ngày 17/10/2023 của Phạm Thị N không cấu thành tội phạm. Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Thị N là có căn cứ.

Đối với người sử dụng tài khoản Zalo “Bích Làn” có hành vi mua số lô, số đề, lô xiên của Trần Thị N với số tiền đánh bạc xác định là 2.814.000đ. Cơ quan CSĐT

- Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, ngoài lời khai của N không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người tên là “Lân” sử dụng tài khoản Zalo “Ac” mà Trần Thị N khai sau khi nhận bán số lô, số đề trái phép cho người chơi thì N mua lại các số lô, số đề của người này để hưởng tiền chênh lệch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người sử dụng tài khoản Zalo “Ac” trên, ngoài lời khai của N không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Đối với các đối tượng mua số lô, số đề của Vũ Thị Như H ngày 17/10/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 47; Điều 65; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 106; 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

[2] Xử phạt:

- Trần Thị N 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/02/2024).

- Nguyễn Thị T 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/02/2024).

Giao các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân phường HBT, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Hình phạt bổ sung:

Phạt các bị cáo Trần Thị N và Nguyễn Thị T mỗi bị cáo 1.000.000đ(một triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

[3] Về truy thu số tiền thu lời bất chính:

Truy Thu của Nguyễn Thị T 4.000.000đ (bốn triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

Truy thu của Trần Thị N 21.390.000đ (hai mươi mốt triệu, ba trăm chín mươi nghìn đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

[4] Xử lý vật chứng:

- Tiếp tục lưu giữ 01 tờ giấy A4, một mặt có in dòng kẻ màu đen, in các số màu đen từ 00 đến 99, có viết các số, chữ bằng mực màu xanh, mặt còn lại có ghi chữ số bằng mực bút bi màu xanh và có chữ ký của Vũ Thị Như H, 01 đĩa DVD có chứa dữ liệu được gửi kèm theo cùng Kết luận giám định số: 1737/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nam Định, bên trong lưu trữ dữ liệu có liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị N trong hồ sơ vụ án.

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi vỏ bằng nhựa màu xanh dài 15cm, bạc, ruột bút mực xanh và 10 tờ giấy trắng kích thước (10x7,5)cm.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note10JE, màu ghi xám lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0814.523.356 của Trần Thị N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu vàng lắp một sim điện thoại số thuê bao: 0357.335.421 của Nguyễn Thị T.

Vật chứng trên có đặc điểm, tình trạng được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ngày 18 tháng 01 năm 2024.

[5] Án phí hình sự sơ thẩm: Trần Thị N và Nguyễn Thị T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ