- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày 29-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nông Thị Huyền Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành;
Ông Nguyễn Cao Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Slỉnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hứa Thế Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn T, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1979 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Tiến P (đã chết) và bà Lường Thị X; có vợ là Lý Ngọc C (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2000; tiền án: 01 tiền án tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2012/HSST ngày 31/5/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 15 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án số 11/HS-ST ngày 05/8/2004 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích), chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ từ ngày 18-12-2023 đến ngày 21-12-2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nông Văn T là người sử dụng trái phép chất ma túy, bị lệ thuộc vào chất ma túy Heroin. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, bị cáo Nông Văn T nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Bị cáo đã một mình đón xe khách từ nhà tại Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đến thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực chợ Đ thuộc phường Đ, thành phố L thì bị cáo Nông Văn T xuống xe, đi bộ quanh khu vực đó nhằm mục đích mua ma túy. Khoảng 05 (năm) phút sau, bị cáo Nông Văn T gặp một người đàn ông (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này) có những biểu hiện giống với những người sử dụng ma túy Heroin nên bị cáo Nông Văn T đặt vấn đề mua ma túy của người này với số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) thì người đàn ông đồng ý. Sau đó, bị cáo Nông Văn T đưa cho nguời đàn ông này số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng), người đàn ông nhận tiền rồi đưa cho bị cáo Nông Văn T 01 (một) gói giấy màu vàng, bên trong có 06 (sáu) gói giấy màu trắng, bên trong các gói giấy đều chứa chất ma túy Heroin.
Sau khi mua được ma túy, bị cáo Nông Văn T đón xe khách quay trở về nhà. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến khu vực khu N, thị trấn L, huyện L thì bị cáo Nông Văn T xuống xe và đi bộ về nhà. Bị cáo Nông Văn T đi được khoảng 10m (mười mét) thì bị tổ công tác Công an huyện Lộc Bình đang làm nhiệm vụ phát hiện do có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật về ma túy. Tổ công tác Công an huyện Lộc Bình đã tiến hành kiểm tra và phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của bị cáo Nông Văn T đang cầm 01 (một) gói giấy màu vàng bên trong gói giấy màu vàng có 06 (sáu) gói giấy màu trắng, bên trong các gói giấy đều có chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroin. Tổ công tác đã đưa bị cáo Nông Văn T về trụ sở Công an huyện Lộc Bình để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ để xác minh, làm rõ sự việc.
Tại bản Kết luận giám định số 102/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng trong 06 (sáu) gói giấy màu trắng được niêm phong trong 01 (một) phong bì có chữ “Đồ vật, tài liệu thu giữ của Nông Văn T sinh năm 1979 khi bị bắt quả tang ngày 18/12/2023” gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,424 gam (đã trừ bì).
Về vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) phong bì thư niêm phong có chữ "Đồ vật, tài liệu thu giữ của Nông Văn T, sinh năm 1979 khi bị bắt quả tang ngày 18/12/2023" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,392 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) và 07 (bảy) vỏ gói giấy (cũ).
Bản Cáo trạng số: 12/CT-VKSLB, ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 20 (hai mươi) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo là người sử dụng ma túy, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ và vỏ bao gói (cũ).
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Hồi 09 giờ 00 phút, ngày 18/12/2023, tại Khu N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Nông Văn T đã thực hiện hành vi cất giấu trong lòng bàn tay trái 01 (một) gói giấy màu vàng, bên trong gói giấy màu vàng có 06 (sáu) gói giấy màu trắng, bên trong các gói giấy có chứa chất bột màu trắng là chất ma túy Heroin (Heroine), có tổng khối lượng 0,424 gam (đã trừ bì) với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Nông Văn T đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được ma túy Heroin là chất gây nghiện cao, gây tổn hại nghiêm trọng đến trí tuệ, sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội, các tội phạm khác. Bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy nhưng vẫn thực hiện vì mục đích vụ lợi, thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị xử phạt 15 (mười lăm) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án hình sự số 41/2012/HSST ngày 31/5/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Ngày 04/02/2021 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án nhưng chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội vào ngày 18/12/2023. Vì vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo từng bị xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/HS-ST ngày 05/8/2004 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, đã được xoá án tích; bị xử phạt 15 (mười lăm) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại Bản án hình sự số 41/2012/HSST ngày 31/5/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, chưa được xoá án tích; là người có nhân thân không tốt.
Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,392 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) đựng trong 01 (một) gói giấy và 07 (bảy) vỏ gói giấy (cũ) bên trong 01 (một) phong bì ghi chữ “Đồ vật, tài liệu thu giữ của Nông Văn T, sinh năm 1979 khi bị bắt quả tang ngày 18/12/2023” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không còn giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nông Văn T tại khu vực chợ Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn do bị cáo không biết được tên tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo Nông Văn T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 18/12/2023.
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 0,392 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) đựng trong 01 (một) gói giấy và 07 (bảy) vỏ gói giấy (cũ) bên trong 01 (một) phong bì ghi chữ “Đồ vật, tài liệu thu giữ của Nông Văn T, sinh năm 1979 khi bị bắt quả tang ngày 18/12/2023” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14-3-2024).
4. Án phí: Bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS CA h.Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện L, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thị Huyền Trang |