vanban.org

Bản án 16/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Lão, tỉnh Bình Định Tuyên án 27/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn K phạm tội: “Hủy hoại rừng”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn K 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Đinh Văn K phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định giá trị thiệt hại đối với phần diện tích rừng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn K rá - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn K phạm tội: “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST
Ngày: 27 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nghiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Minh Tâm.

Ông Đinh Văn Nghin.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Bích Nghị, là Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:

Ông Đinh Văn Trà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

ĐINH VĂN K sinh ngày 16 tháng 5 năm 1989, tại Bình Định. Nơi cư trú: thôn A, xã AH, huyện AL, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: nông; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Hrê; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn O (chết), con bà Đinh Thị G, sinh năm 1958; Có vợ và 03 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt. Bị cáo tại ngoại. “Có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Minh V, Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định, là người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn K. “Có mặt”.

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã AH, huyện AL, tỉnh Bình Định. Trụ sở tại: thôn A, xã AH, huyện AL, tỉnh Bình Định. Người đại diện theo pháp luật ông Đinh Văn C, sinh năm 1971, chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã AH, huyện AL, tỉnh Bình Định, nơi cư trú: thôn A, xã AH, huyện AL, tỉnh Bình Định. “Có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Đinh Văn Ph, sinh năm 1985, nơi cư trú: thôn B, xã AH, huyện AL, tỉnh Bình Định. “Có mặt”.

+ Ông Đinh Văn H, sinh năm 1985, nơi cư trú: thôn C, xã AH, huyện AL, tỉnh Bình Định. “Có mặt”.

+ Ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1994, nơi cư trú: thôn Đ, xã AH, huyện AL, tỉnh Bình Định. “Vắng mặt”.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Thái S, sinh năm 1982, nơi cư trú: thôn Xuân PN, xã AH, huyện An Lão, tỉnh Bình Định. “Có mặt”.

+ Ông Đinh Văn N, sinh năm 1996, nơi cư trú: thôn Đ, xã AH, huyện AL, tỉnh Bình Định. “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 06/3/2024, Đinh Văn K mang theo một máy phát cỏ, một cái rựa, Đinh Văn Ph, Đinh Văn Đ và Đinh Văn H mỗi người mang theo một cái rựa đến khu vực tục danh Nước Xút thuộc lô 15, khoảnh 6, tiểu khu 14, xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định (Vì trước đó, bà Đinh Thị G có nói K dọn rẫy cũ để có chỗ chăn thả trâu, bò). Tại đây, K dùng máy phát cỏ, Ph, Đ, H dùng rựa tiến hành phát dọn dây leo, bụi rậm, ở những chỗ rậm rạp trâu bò không ăn (khu vực này gia đình K thường thả trâu bò), vì khu vực này là rừng thưa, có nhiều dây leo, bụi rậm, cây gỗ to nhỏ khác nhau. K, Ph, Đ, H không phát trắng rừng. Ph, Đ, H chỉ làm công cho K 01 ngày (ngày 06/3/2024). Đến sáng ngày 07/3/2024, K không nói cho ai biết, một mình mang theo 01 máy cưa lốc, 01 cái rựa đến khu vực trên hạ trắng các cây gỗ lớn. Ngày 20/3/2024, K một mình mang theo 01 máy cưa lốc, 01 cái rựa tiếp tục cưa hạ toàn bộ số cây lớn nhỏ còn lại tại khu vực này. Trong lúc K đang dùng máy cưa hạ cây thì bị tổ chốt chặn, tuần tra, kiểm soát lâm sản và kiểm tra, truy quét rừng của Ủy ban nhân dân xã An Hưng phát hiện, truy hô, K thấy có người mặc áo Kiểm lâm nên vứt bỏ máy cưa chạy trốn vào rừng.

Ngày 19/4/2024 Tổ công tác gồm: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, Hạt kiểm lâm huyện An Lão cùng với đại diện Ủy ban nhân dân xã An Hưng tiến hành khám nghiệm hiện trường, quá trình xác định bằng bản đồ, sử dụng máy định vị chuyên dụng, xác định tọa độ, khoanh vùng rừng bị hủy hoại tại lô 15 khoảnh 6, tiểu khu 14 thuộc xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định.

Ngày 22/4/2024, Trung tâm Quy hoạch nông nghiệp nông thôn - Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bình Định, Kết luận giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 89/KL-TCGĐ, địa điểm rừng bị thiệt hại thuộc lô 15.1, khoảnh 6, tiểu khu 14, xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định; Lô rừng bị thiệt hại thuộc đai cao 300m - 700m; Diện tích bị thiệt hại 10.988m2 (10.09ha), trữ lượng 52,69m3; chức năng rừng phòng hộ đầu nguồn; theo nguồn gốc rừng tự nhiên, loại cây gỗ thông thường; trữ lượng rừng nghèo kiệt (TXK); trữ lượng bình quân 47,95m3; chủ quản lý rừng Ủy ban nhân dân xã An Hưng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 09/KLTCĐG ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Lão, kết luận: Tổng giá trị rừng bị thiệt hại là 176.295.867 đồng (làm tròn 176.296.000 đồng).

Bản cáo trạng số: 13/CT-VKSAL, ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Đinh Văn K về tội: “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 243 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu lời luận tội và đề nghị HĐXX:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn K phạm tội “Hủy hoại rừng”.

- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự (BLHS): xử phạt bị cáo Đinh Văn K từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái rựa có tổng chiều dài 69cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 32cm, bản rộng 05cm, phần cán rựa bằng gỗ dài 37cm, một đầu được bọc bởi 01 khuy kim loại, dài 11cm;

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) máy cưa lốc cầm tay có tổng chiều dài 81cm, có động cơ STIHL 382, màu trắng cam, thân máy dài 41cm, rộng 20cm, có gắn tay cầm bằng kim loại, tay cầm được cuộn bằng dây su màu đen; trên đầu máy cưa có gắn một lưỡi cắt bằng kim loại kiểu hình chữ nhật kích thước 40cm x 10cm; 01 (một) máy cắt (máy phát), thân máy màu cam đen có ghi chữ Robin CG260, cần phát dài 1,5m, có gắn lưỡi dao bằng kim loại, kích thước 8x28 (cm) gắn ở cuối cần phát.

- Về bồi thường dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Đinh Văn K phải bồi thường cho nhà nước số tiền theo định giá của Hội đồng định giá thiệt hại rừng trừ đi số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo đã tự nguyện khắc phục.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi đặc biệt khó khăn, sống ở nơi vùng núi, nghề nghiệp chính là làm nương rẫy và làm ruộng. Bị cáo chỉ nghĩ đơn giản là phát dọn để chăn thả trâu bò chứ không có ý định phá rừng. Khi bị cơ quan chức năng phát hiện, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện xin khắc phục một phần hậu quả. Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo có cha là người có công cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 03 năm tù.

- Ý kiến của nguyên đơn dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nguyên đơn dân sự thống nhất với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn Ph, ông Đinh Văn H: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập trong quá trình điều tra, được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Đủ cơ sở kết luận: Vào tháng 3/2024, Đinh Văn K đã sử dụng máy cưa lốc cầm tay, rựa để hạ trắng các cây gỗ lớn cưa, hạ toàn bộ số cây lớn nhỏ tại khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn, có tục danh Nước Xút, thuộc lô 15.1, khoảnh 6, tiểu khu 14, xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định, nhằm mục đích để chăn thả trâu, bò. Bị cáo đã thực hiện hành vi phá rừng trái phép, gây thiệt hại rừng với diện tích 10.988m2, trữ lượng rừng bị thiệt hại là 52,69m3, tổng giá trị rừng bị thiệt hại 176.296.000 đồng. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng”, được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 243 của Bộ luật hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi và hậu quả của Đinh Văn K gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài nguyên Quốc gia, xâm phạm rừng phòng hộ đầu nguồn, do đó cần phải xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, HĐXX cũng nhận thấy rằng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh ra và lớn lên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật và xã hội còn nhiều hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trước khi xét xử bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặc khác, cha của bị cáo là bệnh binh, được Ban chấp hành Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tặng kỷ niệm chương “Thanh niên xung phong”. Từ những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên đủ điều kiện để bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, để thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, HĐXX nhận thấy bị cáo đủ điều kiện để được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ vào nhân thân của người phạm tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. HĐXX nhận thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội đồng thời thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Về phần bồi thường thiệt hại dân sự về giá trị thiệt hại đối với phầ diện tích 10.988m2 (10.09ha) đất rừng phòng hộ đầu nguồn do hành vi Đinh Văn K thực hiện với số tiền là 176.296.000 đồng. Xét thấy, bị cáo thực hiện việc hành vi hủy hoại rừng là hành vi trái pháp luật, bị cáo thực hiện hành vi một mình. Do vậy, buộc bị cáo phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định giá trị thiệt hại đối với phần diện tích rừng bị thiệt hại là 176.296.000 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (Tại biên lai thu tiền số 0004758, ngày 04/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Lão), bị cáo còn phải bồi thường số tiền là 171.296.000 đồng (Một trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Công an huyện An Lão đã thu giữ:

+ 01 (một) cái rựa có tổng chiều dài 69cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 32cm, bản rộng 05cm, phần cán rựa bằng gỗ dài 37cm, một đầu được bọc bởi 01 khuy kim loại, dài 11cm;

+ 01 (một) máy cưa lốc cầm tay có tổng chiều dài 81cm, có động cơ STIHL 382, màu trắng cam, thân máy dài 41cm, rộng 20cm, có gắn tay cầm bằng kim loại, tay cầm được cuộn bằng dây su màu đen; trên đầu máy cưa có gắn một lưỡi cắt bằng kim loại kiểu hình chữ nhật kích thước 40cm x 10cm;

+ 01 (một) máy cắt (máy phát), thân máy màu cam đen có ghi chữ Robin CG260, cần phát dài 1,5m, có gắn lưỡi dao bằng kim loại, kích thước 8x28 (cm) gắn ở cuối cần phát.

Xét thấy, đây là công cụ bị cáo đã dùng vào việc phạm tội, còn giá trị nên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại công văn số 01/HKL ngày 04/4/2024 của Hạt kiểm lâm huyện An Lão đề nghị điều tra, xử lý Đinh Văn K về hành vi chống người thi hành công vụ. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định Krá không có dấu hiệu của tội chống người thi hành công vụ, nên Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão không xem xét xử lý hành vi này là có căn cứ.

Đối với bà Đinh Thị G có nói Krá dọn rẫy cũ (ý của bà Gơm là rong dọn chồi, dây leo, bụi rậm ở rẫy cũ, không bảo Krá phát trắng rừng); đối với Đinh Văn Ph, Đinh Văn Đ và Đinh Văn H vào ngày 06/3/2024, K nói với Ph, Đ, H đi phát rẫy cũ, để có chỗ cho trâu, bò ăn nên Ph, Đ, H đã rong dọn cây, dây leo, bụi rậm mà không phát trắng rừng. Vào những ngày tiếp theo sau đó K đi một mình đến khu vực trên thực hiện hành vi hủy hoại rừng thì bà G, Ph, Đ, H không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão không xem xét xử lý hình sự đối với những người này là có căn cứ.

Về án phí Hình sự sơ thẩm, Dân sự sơ thẩm: Bị cáo Đinh Văn K là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị áp dụng các điểm, Điều, khoản và hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn K phạm tội: “Hủy hoại rừng”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn K 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Đinh Văn K phải bồi thường cho Ủy ban nhân dân xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định giá trị thiệt hại đối với phần diện tích rừng bị thiệt hại là 176.296.000 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng chẵn). Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng, tại biên lai thu tiền số 0004758, ngày 04/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Lão, bị cáo còn phải bồi thường số tiền là 171.296.000 đồng (Một trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Số tiền bồi thường nộp vào ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004758, ngày 04/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Lão để đảm bảo thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ nhà nước:

- 01 (một) cái rựa có tổng chiều dài 69cm, lưỡi rựa bằng kim loại dài 32cm, bản rộng 05cm, phần cán rựa bằng gỗ dài 37cm, một đầu được bọc bởi 01 khuy kim loại, dài 11cm;

- 01 (một) máy cưa lốc cầm tay có tổng chiều dài 81cm, có động cơ STIHL 382, màu trắng cam, thân máy dài 41cm, rộng 20cm, có gắn tay cầm bằng kim loại, tay cầm được cuộn bằng dây su màu đen; trên đầu máy cưa có gắn một lưỡi cắt bằng kim loại kiểu hình chữ nhật kích thước 40cm x 10cm;

- 01 (một) máy cắt (máy phát), thân máy màu cam đen có ghi chữ Robin CG260, cần phát dài 1,5m, có gắn lưỡi dao bằng kim loại, kích thước 8x28 (cm) gắn ở cuối cần phát.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/11/2024, giữa\Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão và Chi cục thi hành án dân sự huyện An Lão.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm: Bị cáo Đinh Văn K được miễn nộp án phí theo quy định của pháp luật.

6. Về nghĩa vụ thi hành án:

6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

6.2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/12/2024).

Cỡ chữ