- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Đ + 2BC - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lương Văn Đ1, Hà Văn Đ và Lương Văn C. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 02-11-2023 của Toà án nhân dân huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HS-PT Ngày 06-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Chương.
Các Thẩm phán: Ông K’ Tiêng và ông Võ Văn Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo: Lương Văn Đ, Hà Văn Đ và Lương Văn C; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 02-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Lương Văn Đ, sinh năm 1986, tại tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Lương Văn N (đã chết) và bà Hoàng Thị Đ (sinh năm 1957); có vợ là Trịnh Thị H (sinh năm 1987) và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 26/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Nông xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; ngày 10/02/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; ngày 20/9/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” (đều đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/03/2023 đến ngày 20/4/2023 được thay đổi biện pháp Bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Hà Văn Đ, sinh năm 1987, tại tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Hà Văn H (sinh năm 1960) và bà Nguyễn Thị Q (sinh năm 1966); có vợ là Trần Thị L (sinh năm 1995) và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/11/2016, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, mức phạt 1.500.000 đồng (đã được xóa tiền sự); ngày 26/4/2018, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/03/2023 đến ngày 20/4/2023 được thay đổi biện pháp Bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Lương Văn C, sinh năm 1978, tại tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Lương Văn N (đã chết) và bà Hoàng Thị Đ (sinh năm 1957); có vợ là Lâm Thị T (sinh năm 1986) và có 02 con (lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 1999); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đăk Nông xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” (đã được xóa án tích); ngày 09/11/2016, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, mức phạt 1.500.000 đồng (đã được xóa tiền sự). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/03/2023 đến ngày 31/03/2023 được thay đổi biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng trưa ngày 23/03/2023, trong lúc đang ăn nhậu tại nhà Hoàng Văn H ở thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; Lý Văn H1, Âu Văn S, Hà Văn Đ và Lương Văn C rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa thì tất cả đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày sau khi ăn nhậu xong, H chuẩn bị 01 chén sành và 01 đĩa sành, Đ chuẩn bị 04 quân vị được cắt ra từ bao thuốc lá ngựa nâu. Sau khi chuẩn bị công cụ xong cả 05 người ngồi vào chiếu thành hình tròn rồi cùng nhau đánh bạc. S chủ động lấy công cụ đã để lên chiếu làm người xóc cái và thống nhất mỗi lần đặt cược không quá 300.000 đồng. Hình thức đánh như sau: Người cầm cái bỏ 04 quân vị vào đĩa (mỗi quân vị có một mặt màu nâu và 01 mặt màu trắng), dùng chén úp 04 quân vị lại và xóc. Sau khi người cầm cái xóc xong thì những người tham gia đánh bạc đặt cược bằng tiền vào bên chẵn (bên tay trái người xóc cái) hoặc bên lẻ (bên tay phải người xóc cái). Sau khi đặt cược tiền xong thì người xóc cái mở chén ra để xem kết quả. Nếu kết quả là chẵn (02 quân vị nâu 02 quân vị trắng, 04 quân vị cùng nâu hoặc 04 quân vị cùng trắng) thì người đặt cược bên chẵn thắng số tiền đã đặt, người đặt cược bên lẻ thua số tiền đã đặt. Nếu kết quả là lẻ (01 quân vị nâu 03 quân vị trắng hoặc 01 quân vị trắng 03 quân vị nâu) thì người đặt cược bên lẻ thắng số tiền đã đặt, người đặt cược bên chẵn thua số tiền đã đặt. Các đối tượng H, H1, S, Đ và C cùng nhau đánh bạc được khoảng 15 phút thì lần lượt có Lương Văn Đ1, Hoàng Văn Tr, Hoàng Văn H2 và Đặng Văn M đến nhà của H và tự vào đánh bạc cùng. 09 người đánh bạc đến 15 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Cư Jút phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 21.450.000đ (hai mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), 01 chén sành, 01 đĩa sành và 04 quân vị hình tròn được cắt ra từ vỏ bao thuốc lá ngựa nâu. S là người xóc cái từ đầu đến khi bị bắt. Quá trình điều tra đã chứng minh được việc các bị cáo sử dụng số tiền để đánh bạc như sau: H sử dụng 2.400.000 đồng, H1 sử dụng 1.200.000 đồng, S sử dụng 2.200.000 đồng, Đ sử dụng 2.500.000 đồng, C sử dụng 1.000.000 đồng, Đ1 sử dụng 4.450.000 đồng, M sử dụng 4.800.000 đồng, Tr sử dụng 2.500.000 đồng và H2 sử dụng 400.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, truy tố, tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Hoàng Văn H, Lý Văn H1, Đặng Văn M, Hoàng Văn Tr, Hoàng Văn H2 và Âu Văn S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 02-11-2023 của Toà án nhân dân huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn H, Lương Văn Đ1, Hà Văn Đ, Lương Văn C, Hoàng Văn H2, Lý Văn H1, Hoàng Văn Tr, Âu Văn S và Đặng Văn M phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Hoàng Văn H, Hoàng Văn H2, Lý Văn H1, Hoàng Văn Tr, Âu Văn S và Đặng Văn M mỗi bị cáo 01 năm tù, nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn Đ1 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/03/2023 đến ngày 20/4/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn Đ 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/03/2023 đến ngày 20/4/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn C 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/03/2023 đến ngày 31/3/2023.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định việc giao các bị cáo được hưởng án treo để giám sát và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 10-11-2023, các bị cáo Lương Văn Đ1, Hà Văn Đ và Lương Văn C kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Cư Jut xử phạt các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tội danh: Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 23/03/2023 tại nhà của Hoàng Văn H ở thôn A, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông; Công an huyện Cư Jút đã bắt quả tang Hoàng Văn H, Lương Văn Đ1, Hà Văn Đ, Lương Văn C, Hoàng Văn H2, Lý Văn H1, Hoàng Văn Tr, Âu Văn S và Đặng Văn M đang cùng nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh xóc đĩa. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 21.450.000đ (hai mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) cùng các công cụ, phương tiện dùng vào việc đánh bạc. Cụ thể như sau:
Bị cáo Hoàng Văn H sử dụng số tiền 2.400.000 đồng để đánh bạc.
Bị cáo Lương Văn Đ1 sử dụng 4.450.000 đồng để đánh bạc;
Bị cáo Hà Văn Đ sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc;
Bị cáo Lương Văn C sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc;
Bị cáo Hoàng Văn H2 sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc;
Bị cáo Lý Văn H1 sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc;
Bị cáo Hoàng Văn Tr sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc;
Bị cáo Âu Văn S sử dụng 2.200.000 đồng để đánh bạc;
Bị cáo Đặng Văn M sử dụng 4.800.000 đồng để đánh bạc.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 02-11-2023 của Toà án nhân dân huyện Cư Jut đã xét xử các bị cáo với tội danh như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của các bị cáo Lương Văn Đ1, Hà Văn Đ và Lương Văn C, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Các bị cáo có nhân thân xấu, cả 03 bị cáo đều đã nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc, bị xử phạt vi phạm hành chính cũng như bị xét xử nhưng các bị cáo không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Các bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và quy định tại Điều 1 Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP thì các bị cáo không có đủ điều kiện để được hưởng án treo.
Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo Lương Văn Đ1 và Lương Văn C không cung cấp thêm tình giảm nhẹ mới; bị cáo Hà Văn Đ cung cấp một số tài liệu khen thưởng trong quá trình nhập ngũ tại Trường B; tuy nhiên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo cũng đã phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lương Văn Đ1, Hà Văn Đ và Lương Văn C. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 02-11-2023 của Toà án nhân dân huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn Đ1 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/03/2023 đến ngày 20/4/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn Đ 01 năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/03/2023 đến ngày 20/4/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn C 01 năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/03/2023 đến ngày 31/3/2023.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lương Văn Đ1, Hà Văn Đ và Lương Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông; - TAND huyện Cư Jut; - VKSND huyện Cư Jut; - Chi cục THADS huyện C; - CQTHAHS Công an huyện C; - Bị cáo; - Lưu: HS, Tổ HCTP, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hồng Chương |