- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Chị Đặng Thị Nhật T, Anh Tạ Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tò…
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05-3-2024 V/v ly hôn, Tranh chấp nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Thùy
2. Ông Nguyễn Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Nguyễn Mộng Cầm – Thư ký Tòa án nhân nhân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long: Bà Nguyễn Thanh Thúy – Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 379/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc: “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Nhật T, sinh năm 1994 “vắng mặt”.
2. Bị đơn: Anh Tạ Văn T, sinh năm 1988 “vắng mặt”.
3. Người làm chứng: Bà Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1962 “vắng mặt”.
Cùng địa chỉ cư trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 13/11/2023 nguyên đơn chị Đặng Thị Nhật T trình bày: Chị T và anh Tiền kết hôn vào năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 28/06/2013. Thời gian chung sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm nên chị yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh Tiền.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung tên Tạ Thị L, sinh ngày 13/01/2012 và Tạ Thị T, sinh ngày 06/6/2014, nay chị yêu cầu được nuôi 02 con chung và yêu cầu anh Tiền phải cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng), 02 con chung là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý đơn của chị T, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải cho bị đơn nhưng phía bị đơn anh Tạ Văn T không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung khởi kiện của nguyên đơn và không đến tham gia phiên họp và hòa giải cho nên không tiến hành phiên họp và hòa giải được giữa các đương sự. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập các đương sự đến tham gia phiên tòa sơ thẩm nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do và nguyên đơn cũng có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn vắng mặt, người làm chứng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Vị đại diện Viện kiểm sát huyện Trà Ôn phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và trình tự, thủ tục xét xử của Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn, người làm chứng chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành đầy đủ về quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, 56, 81, 82, 83, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Nhật T.
Về hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Nhật T được ly hôn với anh Tạ Văn T.
Về con chung: Giao 02 con chung Tạ Thị L, sinh ngày 13/01/2012 và Tạ Thị T, sinh ngày 06/6/2014 cho chị Đặng Thị Nhật T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tạ Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đồng/01 con chung; 02 con chung là 2.000.000đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và anh Tiền có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: đương sự trình bày không có nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn. Anh Tạ Văn T phải nộp 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Chị Đặng Thị Nhật T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Tạ Văn T, có địa chỉ: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
- Về người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Đặng Thị Nhật T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn anh Tạ Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng anh Tiền vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai nên căn cứ khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đặng Thị Nhật T và anh Tạ Văn T kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 28/6/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, theo giấy chứng nhân kết hôn số: 57, ngày 28/6/2013 và chị T, anh Tiền kết hôn cũng đảm bảo các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét lời trình bày của chị T cho rằng: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, do cuộc sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Từ đó vợ chồng không còn tình cảm nhau, từ khi mâu thuẫn đến nay vợ chồng không có hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt nên chị yêu cầu ly hôn với anh Tiền. Xét lời trình bày của chị T phù hợp với lời khai của người làm chứng. Mặc khác, việc yêu cầu ly hôn của chị T thì anh Tiền không có ý kiến gì, mặt dù Tòa án triệu tập tham gia để hòa giải nhưng anh Tiền không tham gia. Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xét thấy 02 con chung Tạ Thị L, sinh ngày 13/01/2012 và Tạ Thị T, sinh ngày 06/6/2014 hiện tại đang sống chung với chị T, mặc khác cháu L và T có ý kiến được tiếp tục sống chung với chị T nên tiếp tục giao con chung cho chị T được tiếp tục nuôi là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị Nhật T yêu cầu anh Tạ Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con chung là 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét mức cấp dưỡng chị T yêu cầu là phù hợp với thực tế và theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận mức mỗi tháng 1.000.000đồng/ 01 con chung, 02 con chung là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là phù hợp quy định tại Điều 82, 83, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải nộp 300.000đồng án phí lý hôn và anh Tạ Văn T phải nộp 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ so với nhận định trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Nhật T.
1. Về hôn nhân:
Xử cho chị Đặng Thị Nhật T được ly hôn với anh Tạ Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung Tạ Thị L, sinh ngày 13/01/2012 và Tạ Thị T, sinh ngày 06/6/2014 cho chị Đặng Thị Nhật T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tạ Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi con chung là 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng, 02 con chung là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 05/3/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và anh Tiền có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm nếu người phải thi hành án chưa trả xong số tiền phải thi hành án thì phải trả thêm lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đặng Thị Nhật T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0010850 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh Tạ Văn T có nghĩa vụ nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn; - Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn; - Uỷ ban nhân dân xã T; (Giấy kết hôn số: 57, ngày 28/6/2013); - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thạch Thị Tuyền |