vanban.org

Bản án 16/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu K kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm T.

Buộc vợ chồng anhTrương Văn K và chị Trần Thị Ngọc G trả cho chị Lê Thị Cẩm T số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Về thời gian thanh toán: Khi nào bản án có hiệu lực pháp luật, thì các bên căn cứ vào bản án để thực hiện yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu K kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật tố tụng dân; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:16 /2024/DS-ST
Ngày 18 – 3 – 2024
“V/v Đòi lại tài sản.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoài và bà Trần Thị Mộng Lành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐ-ST –DS ngày 01/3/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm T (tên gọi khác C), sinh năm 1983;

Địa chỉ: Ấp X, xã T Y, huyện A B, tỉnh Kiên Giang

2. Bị đơn: Anh Trương Văn K, sinh năm 1980 và chị Trần Thị Ngọc G, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Ấp X D, xã T Y, huyện A B, tỉnh Kiên Giang

(Chị T có mặt tại phiên tòa; anh K và chị G vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn K kiện và những ý kiến tại Tòa án đại diện nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm T trình bày yêu cầu như sau:

Vào ngày 02/12/2018 âm lịch thì vợ chồng anh K chị G trực tiếp đến gặp chị hỏi vay số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng), lãi thỏa thuận là vay 1.000.000đ mỗi tháng đóng 50.000đ, vậy mỗi tháng đóng lãi cho chị 5.000.000đ, tuy nhiên chưa có đóng lãi đồng nào. Sau đó đến ngày 02/12/2019 thì anh K chị G trả cho chị được 50.000.000đ, còn nợ lại 50.000.000đ đến nay chưa trả, chị đã liên hệ nhiều lần nhưng vợ chồng anh K chị G chỉ hứa hẹn mà không trả nợ cho chị, nên chị K kiện ra Tòa án.

Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Trương Văn K và chị Trần Thị Ngọc G trả cho chị số tiền còn nợ là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và lãi suất 10%/năm tính từ ngày 02/12/2019 đến khi giải quyết xong vụ án.

Bị đơn anh Trương Văn K và chị Trần Thị Ngọc G: Vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên không ghi nhận ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị T yêu cầu anh Trương Văn K và chị Trần Thị Thị Ngọc G trả số tiền còn nợ 50.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn anh Khỏi, chị G vắng mặt nên không có ý kiến yêu cầu gì.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng theo trình tự Bộ luật luật tố tụng dân sự. Thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. Đối với đương sự tham gia giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Bị đơn vắng mặt lần 02 không lý do nên căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu K kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ kiện: Các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân huyện An Biên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị T K kiện yêu cầu vợ chồng anh K, chị G trả số tiền vay vào năm 2018 còn nợ nên quan hệ pháp luật được xác định trong vụ án là “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn vợ chồng anh K, chị G đã được triệu tập xét xử hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào khoản Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án: Chị T yêu cầu vợ chồng anh K, chị G trả số tiền vay còn nợ là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vợ chồng anh K, chị G vẫn vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Chị T cung cấp được giấy biên nhận nợ đề ngày 02/12/2018 với nội dung có thể hiện việc vợ chồng anh K, chị G có hỏi vay số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) có chữ ký nhận nợ của vợ chồng anh K, chị G. Sau đó đến ngày 02/12/2019 thì vợ chồng anh K, chị G có trả cho chị T được 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và còn nợ lại 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Do đó, việc chị T yêu cầu vợ chồng anh K, chị G trả số tiền còn nợ là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) là có căn cứ chấp nhận.

Từ những nhận định nêu trên, căn cứ các Điều 166, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu K kiện của chị Lê Thị Cẩm T buộc vợ chồng anhTrương Văn K và chị Trần Thị Ngọc G trả cho chị Cẩm T số tiền còn nợ là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Về lãi suất: Do nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.

Về thời hạn trả nợ thì khi bản án có hiệu lực thì các bên căn cứ vào bản án để thực hiện yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Về án phí của vụ án: 50.000.000đ x 5% = 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân năm 2015; Điều 166, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu K kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm T.

Buộc vợ chồng anhTrương Văn K và chị Trần Thị Ngọc G trả cho chị Lê Thị Cẩm T số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Về thời gian thanh toán: Khi nào bản án có hiệu lực pháp luật, thì các bên căn cứ vào bản án để thực hiện yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải chịu thêm một khoản lãi theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thực hiện tại thời điểm thi hành án.

2. Về án phí vụ kiện:

Buộc anhTrương Văn K và chị Trần Thị Ngọc G phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 2.850.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0009036 ngày 27/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Tr ng h p ản án, quy t định đ c thi hành theo quy định tại Đi u u t thi hành án dân s thì ng i đ c thi hành án dân s , ng i phải thi hành án dân s c quy n th a thu n thi hành án, quy n yêu c u thi hành án, t nguy n thi hành án ho c ị c ng ch thi hành án theo quy định tại các Đi u , và u t thi hành án dân s Th i hi u thi hành án đ c th c hi n theo quy định tại Đi u u t thi hành án dân s ./.

Cỡ chữ