- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty J
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/DS-ST Ngày: 27-02-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Tân.
Ông Thạch Tân Dân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty J (Viết tắt JIVF).
Địa chỉ: Lầu 15 Toà nhà C, số 72-74 Đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông T – Tổng giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Việt N - Phó Bộ phận quản lý công nợ (Theo Giấy uỷ quyền số 17/2023/UQ-JIVF ngày 19/9/2023).
Người được uỷ quyền lại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 – Nhân viên JIVF (Theo Giấy uỷ quyền số 726/2023/UQLM-JIVF ngày 10/11/2023).
Địa chỉ: Số 16/12 Khu phố D, Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn Công ty J có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào ngày 28/02/2023, bà Nguyễn Thị Thu T đã ký kết hợp đồng tín dụng số 930080003923890000 với Công ty J (Sau đây gọi tắt là Công ty JIVF) để vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) theo hình thức trả góp hàng tháng. Mỗi tháng phải thanh toán 2.020.101 đồng, kỳ thanh toán đầu tiên vào ngày 31/3/2023, kỳ cuối cùng vào ngày 28/02/2025, lãi suất cho vay trong hạn là 4,2%, lãi suất cho vay quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, mục đích vay mua sản phẩm thiết bị điện tử trong nhà. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã vi phạm thoả thuận trả nợ theo phân kỳ. Từ ngày 01/4/2023 đến ngày 31/7/2023 bà T chỉ thanh toán được 8.100.202 đồng. Bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, thanh toán trễ hạn và hiện vẫn còn nợ các kỳ phải thanh toán là vi phạm Điều 3, Điều 8 của Hợp đồng mà hai bên đã ký kết, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty JIVF.
Do đó, Công ty JIVF khởi kiện, yêu cầu bà T phải thanh toán cho Công ty số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng bao gồm nợ gốc và lãi, phí phát sinh tính đến ngày 27/02/2024 là 36.329.892 đồng. Trong đó, nợ gốc là 26.783.239 đồng, lãi là 8.954.580 đồng, lãi quá hạn là 496.073 đồng, phí quản lý khoản vay là 96.000 đồng. Bà T phải thực hiện thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời bà T còn phải tiếp tục chịu các khoản lãi, lãi quá hạn và các loại phí phát sinh từ sau ngày 27/02/2024 theo hợp đồng cho đến khi thanh toán hoàn tất cho Công ty JIVF.
Ngoài ra, Công ty không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng dù đã được triệu tập hợp lệ, chưa gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa: Ông Tuấn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của Công ty JIVF. Bị đơn bà T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên toà, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty J: Công ty JIVF khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu T phải có nghĩa vụ trả cho Công ty số nợ của Hợp đồng tín dụng, trong đó nợ gốc là 26.783.239 đồng và nợ lãi, phí tạm tính đến ngày 27/02/2024 là 9.546.653 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, Công ty đã giao nộp bản sao các tài liệu, chứng cứ là Hợp đồng tín dụng số 930080003923890000, Giấy đề nghị vay kiêm phương án sử dụng vốn, Giấy nhận nợ cùng ngày 28/02/2023, Lịch sử thanh toán chi tiết. Các tài liệu này cho thấy bà Nguyễn Thị Thu T đã ký kết Hợp đồng tín dụng với Công ty JIVF vào ngày 28/02/2023, bao gồm các nội dung đúng với lời trình bày của Công ty JIVF, đồng thời Công ty đã giải ngân toàn bộ số tiền vốn 30.000.000 đồng cho bà T theo lịch sử thanh toán. Hội đồng xét xử xác định giao dịch tín dụng giữa Công ty JIVF với bà T là có thật. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, dư nợ vốn là 26.783.239 đồng và tiền lãi, phí tính đến ngày 27/02/2024 là 9.546.653 đồng. Tổng cộng vốn, lãi, phí là 36.329.892 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù bà T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình vắng mặt không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh sự phản đối đó. Nếu bà T không thừa nhận số nợ trên thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, trong suốt quá trình tố tụng, bà T vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, không thể hiện ý chí phản đối chứng cứ và tài liệu mà Công ty JIVF cung cấp thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Công ty JIVF yêu cầu bà T phải trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng là có cơ sở, phù hợp với quy định của khoản 2 Điều 91, Điều 94, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty JIVF được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố dụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí bà T phải nộp được xác định:
36.329.892 đồng x 5% = 1.816.495 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 91, Điều 94, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty J
Buộc bà Nguyễn Thị Thu T có nghĩa vụ trả cho Công ty J số tiền vốn là 26.783.239 đồng (Hai mươi sáu triệu, bảy trăm tám mươi ba nghìn, hai trăm ba mươi chín đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 930080003923890000 ngày 28/02/2023 (lãi tạm tính đến ngày 27/02/2024 là 9.546.653 đồng (Chín triệu, năm trăm bốn mươi sáu nghìn, sáu trăm năm mươi ba đồng), thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 28/02/2024, bà T còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 930080003923890000 cho đến khi thanh toán hoàn tất.
2. Án phí:
Bà Nguyễn Thị Thu T có nghĩa vụ nộp 1.816.495 đồng (Một triệu, tám trăm mười sáu nghìn, bốn trăm chín mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Công ty J số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 781.490 đồng (Bảy trăm tám mươi mốt nghìn, bốn trăm chín mươi đồng) theo biên lai thu số 0001503 ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Tân Phú Đông; - Chi cục THADS huyện Tân Phú Đông; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thơm |