- Tranh chấp gì? án hình sự — "tran duc quang - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16/2023/HSST Ngày 06 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khương Đặng Khánh Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Sơn
Ông Vũ Mạnh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Tiến Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Đồng Thịnh, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/HSST ngày 08/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 23/3/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đức Q, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1975 (tên gọi khác: Không); nơi cư trú: Thôn M, xã Y, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức H (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Th (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1980 (đã ly hôn), con: có 02 con lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Quyết định số 06 ngày 03/02/2015 Tòa án nhân dân huyện Sông Lô áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 02 năm. Ngày 20/4/2018 Q đã chấp hành xong Quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn Thôn M, xã Y, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bị nghiện chất ma túy từ nhiều năm nên khoảng 11 giờ ngày 21/12/2022, Trần Đức Q trú tại thôn M, xã Y, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 88C1-167.08 đến khu vực xã Đồng Thịnh, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy để sử dụng. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, Q qua ngã tư khu vực đèn giao thông thuộc thôn Thiều Xuân, xã Đồng Thịnh, huyện Sông Lô thì gặp và mua được của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy Heroin với giá 500.000 đồng. Q cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái đem về để sử dụng. Khi Q quay về một đoạn đến đường bê tông liên thôn thuộc thôn Thiều Xuân, xã Đồng Thịnh thì bị lực lượng Công an huyện Sông Lô kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại lòng bàn tay trái của Q 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng niêm phong trong bì thư ký hiệu A1. Q khai nhận đây là ma túy heroine vừa mua được mang về để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, cơ quan Công an huyện Sông Lô còn thu giữ của Quang 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 88C1-167.08.
Tại bản kết luận số 3753/KLGĐ ngày 25/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận; "Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3084g loại Heroine" Cơ quan giám định hoàn lại A1 =0,2782 gam, cùng toàn bộ bao gói.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Đức Q đã thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số: 22/CT - VKSSL ngày 07/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Trần Đức Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Q giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo Q. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Q.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Đức Q từ 16 (mười sáu) tháng đến 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/12/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận. Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 21/12/2022, tại khu vực đường bê tông liên thôn thuộc thôn Thiều Xuân, xã Đồng Thịnh, huyện Sông Lô, Trần Đức Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,3084gam trong lòng bàn tay trái, mục đích đem về sử dụng cho bản thân bị Công an huyện Sông Lô phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Hành vi nêu trên của bị cáo Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”
…c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được những ảnh hưởng xấu của ma túy đến sức khỏe của bản thân và cộng đồng xã hội nhưng do bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn làm tệ nạn ma túy ngày càng lan rộng và phát triển mạnh hơn trong đời sống. Từ tệ nạn ma túy là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 0,2782 gam mẫu Heroine được hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 88 C1- 167.08 là tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của chị Vũ Thị H là em dâu của bị cáo. Việc Q sử dụng chiếc xe để đi mua ma tuý chị H không biết nên cần xem xét trả lại cho chị H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với người bán ma túy cho Trần Đức Q tại khu vực ngã tư khu vực đèn giao thông thuộc thôn Thiều Xuân, xã Đồng Thịnh, huyện Sông Lô, Quang khai không biết họ tên cụ thể, địa chỉ và không nhận dạng được người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh đều tra làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Trần Đức Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Đức Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/12/2022).
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2782 gam mẫu ma túy Heroine cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ 3716” do cơ quan giám định hoàn lại.
Trả lại cho chị Vũ Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda gắn BKS 88C1-167.08, có số khung: 2705DY040293, số máy: JA27E0040347.
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Sông Lô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Đức Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhândânhuyệnSông Lô; -Viện kiểm sátnhân dântỉnhVĩnh Phúc; -Tòa ánnhân dân tỉnhVĩnhPhúc; - SởTưpháp tỉnhVĩnhPhúc; - Cơ quanTHAHS CA huyện Sông Lô, tỉnhVĩnh Phúc; -Chi cụcThihành ándânsự huyện Sông Lô; -Công anhuyện Sông Lô; -Uỷ ban nhândân xã Yên Thạch; -Bị cáo; NgườiTGTT; - Lưu hồ sơ; Văn phòng. 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Khương Đặng Khánh Hằng Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn Khương Đặng Khánh Hằng |