- Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI VĂN PH PHẠM TỘI ĐÁNH BẠC - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Bùi Văn Ph phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HSST. Ngày: 21/4/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Chương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Đình Hạnh; ông Ngô Trung Tính.
Ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Thuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: bà Bùi Thanh Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
BÙI VĂN PH, sinh ngày 11/10/1973; Trú tại: xóm Kh, xã X, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Bùi Ngọc D, (đã chết), con bà Bùi Thị S (đã chết); Vợ: Bùi Thị Ng (sinh năm 1975); Con: có hai con lớn nhất sinh năm 1995; nhỏ nhất sinh năm 2000; Đều trú tại: xóm K, xã X, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình; gia đình có sáu anh em, bị cáo là con cả trong gia đình. Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2022 đến ngày 13/12/2022 được tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
- Bùi Văn H, sinh năm 1985, (vắng mặt).
- Bùi Tiến D, sinh năm 1995 , (vắng mặt).
Đều trú tại: xóm B, xã K, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 08/12/2022 khi Bùi Văn Ph đang ở quán tạp hóa tại nhà ở của mình bán hàng như mọi hôm thì có một nam thanh niên đi xe máy vào quán, người này xưng tên là N ở thị trấn B – Kim Bôi, Nam bảo Ph làm “thư ký” bán số lô, số đề cho N để hưởng hoa hồng theo thỏa thuận: Số đề hai số, số xiên, số đề ba số hưởng 10% số tiền bán được, số lô điểm 1 điểm bán 23.000 đồng Ph được hưởng 1.000 đồng, Ph đồng ý. Nbảo Ph đến 18 giờ hàng ngày N tự đi đến thu bảng đề và tiền bán được sau khi Ph tự trừ đi tiền hoa hồng được hưởng, đến sáng hôm sau nếu có ai trúng thì N mang bảng đề và số tiền trúng đưa lại cho Ph để Ph trả cho khách, đến 18 giờ N lại đến thu bảng đề và tiền bán được mang đi. Từ đó Ph bắt đầu làm thư ký cho N và bán số lô đề cho khách có nhu cầu mua tại quán nhà Ph.
Đến khoảng hơn 16 giờ 30 phút ngày 10/12/2022, khi Ph đang ở quán nhà mình bán hàng như mọi hôm thì có Bùi Văn H, sinh năm 1985 và Bùi Tiến D, sinh năm 1995 cùng trú tại xóm B, xã K, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đi đến mua các số lô điểm, số đề từ Ph, cụ thể: H mua các cặp số lô 39, 80 tổng 100 điểm bằng 2.300.000 đồng, mua các cặp số đề 39, 93, 27, mỗi cặp 100.000 đồng, tổng bằng 300.000 đồng, D mua các cặp số lộ 55, 24, 39 tổng 120 điểm bằng 2.760.000 đồng, mua các cặp số đề 35, 78 mỗi cặp 100.000 đồng, tổng bằng 200.000 đồng, đối với số đề mỗi cặp được Ph khuyến mại thêm 10% tiền mua (mua 100.000 đồng/cặp được khuyến mại thêm 10%=10.000 đồng, ghi thành mua 110.000 đồng). Ph ghi các số mua và tiền mua của H, D vào 01 “bảng đề” làm từ tờ giấy trắng kẻ ngang rồi ghi lại vào “cáp đề” đưa cho H và D mỗi người một cáp. Khi Ph giao cáp đề và nhận được tiền mua từ H và D thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền 5.560.000 đồng là tiền Ph vừa bán số lô, số đề cho H và D và có cùng các tang vật liên quan khác.
Quy ước về số lô, số đề và cách tính thắng thua của hình thức đánh bạc căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày để xác định thắng, thua và thanh toán. Đối với đề 02 số (tính là hai số cuối của giải đặc biệt), nếu trúng đề người trúng sẽ được trả gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua. Đối với số đề 03 số (tính là ba số cuối của giải đặc biệt) nếu trúng đề người trúng sẽ được trả gấp 400 lần số tiền đã bỏ ra mua. Đối với lô 02 số (tính là hai số cuối của bất kỳ một trong các giải từ giải đặc biệt đến giải bảy), người mua phải trả 23.000 đồng/1 điểm, nếu thắng sẽ được trả 80.000 đồng/1 điểm. Đối với các số lô xiên gồm: Xiên 2 (tính là hai cặp hai số cuối từ giải đặc biệt đến giải bảy), xiên 3 (tính là ba cặp hai số cuối từ giải đặc biệt đến giải bảy), nếu trúng xiên 2 được trả gấp 10 lần tiền mua, trúng xiên 3 được trả gấp 40 lần. Người mua số lô, đề nếu trúng thì đem “cáp đề” được người bán đưa cho từ lúc mua đưa lại cho người bán đối chiếu kết quả và thanh toán tiền trúng như quy ước trên.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKS ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Bùi Văn Ph về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn Ph phạm tội Đánh bạc.
- Về hình phạt đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn Ph từ 6 (sáu) đến 9 (chín) tháng tù cho hưởng án treo.
Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng:
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 5.560.000đ (năm triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bôi.
Bị cáo đồng ý với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản vi phạm hành chính, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đã xác định được như sau: do muốn có tiền chi tiêu cá nhân, Bùi Văn Ph đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức thức bán số lô, số đề cho người khác. Ngày 10/12/2022 Bùi Văn Ph bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc trái phép. Quá trình điều tra đã xác định số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 5.560.000đ (năm triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, kỷ cương pháp luật bị xâm hại, xâm phạm đến khách thể là trật tự công cộng, được luật hình sự bảo vệ. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, pháp luật nghiêm cấm, vì nó là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, thậm chí gây mất hạnh phúc trong gia đình, bị mọi người và xã hội lên án nhưng do thiếu ý thức tôn trọng luật pháp mà bị cáo đã tham gia đánh bạc với hình thức “lô đề”. Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Văn Ph phạm tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai là cần thiết, đồng thời nhằm mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với người thanh niên có tên là N mà Bùi Văn Ph khai nhận đã nhận làm “thư ký” bán số lô đề cho người này để hưởng hoa hồng. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an thị trấn B, tuy nhiên qua rà soát các công dân có tên là N cư trú tại thị trấn B, chưa thấy công dân nào có đặc điểm như đã nêu trên, vì vậy Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch người này để điều tra làm rõ có hay không việc người làm chủ ôm lô đề từ Bùi Văn Ph.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, có nhân thân tốt, từ trước tới nay chưa từng vi phạm pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo yên tâm cải tạo, giáo dục tại địa phương trở thành người có ích cho xã hội. Việc cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hại cho xã hội, vẫn đảm bảo được sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật TTHS:
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền Số tiền 5.560.000đ (năm triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng)
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326 của UBTVQH bị cáo phải chịu án phí hình sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo: Bùi Văn Ph phạm tội: “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt Bùi Văn Ph 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Văn Ph cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 5.560.000đ (năm triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bôi.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Kim Bôi; - Công an huyện Kim Bôi; - THA DS huyện Kim Bôi; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình; - UBND xã Xuân Thủy; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Văn Chương |